Expendable Elite - Biệt Đội Tinh Nhuệ

12

Expendable Elite: One Soldier's Journey into Covert Warfare

Biệt Đội Tinh Nhuệ: Hành Trình Trong Cuộc Chiến Bí Mật

Lược Dịch và Chú Giải.

Expendable Elite: One Soldier's Journey into Covert Warfare Biệt Đội Tinh Nhuệ: Hành Trình Trong Cuộc Chiến Bí Mật

Tác giả:

Daniel Marvin là một đại úy lính Mũ nồi xanh (đặc nhiệm) Hoa Kỳ khi tham chiến tại chiến trường Việt Nam (quận An Phú tỉnh Châu Đốc) những năm 1965-1966. Ông sinh năm 1933, mất năm 2012 tại Hoa Kỳ với cấp bậc trung tá.

Tác phẩm

Expendable Elite: One Soldier's Journey into Covert Warfare là hồi ký của tác giả khi tham chiến tại quận An Phú, tỉnh Châu Đốc.

Marvin kể lại các câu chuyện chiến đấu ở An Phú và tố cáo những tội ác mà CIA gây ra trong cuộc chiến.

Quyển sách đã gây chấn động dư luận Hoa Kỳ khi tiết lội CIA đứng sau âm mưu ám sát quốc trưởng Campuchia. Các cựu binh mũ nồi xanh Hoa Kỳ từng hoạt động chung với tác giả ở An Phú cũng đã đâm đơn kiện Marvin. Tòa án đã kết luận Marvin thắng. (Theo báo Thanh Niên)

Năm xuất bản: 2003. Bản dịch này dựa theo bản 2006 (tái bản lần thứ 2).

Trang giới thiệu sách: http://www.expendableelite.com/
Bài viết giới thiệu về nội dung sách và hình ảnh tư liệu trên nguoianphu.com: Những hình ảnh về quận An Phú tỉnh Châu Đốc trong các năm 1965-1966

Các từ viết tắt và dịch nghĩa cho hợp lý:

  • 5th Special Forces Group, 1st Special Forces Regiment: Trung đoàn Lực lượng đặc biệt (LLDB) Hoa Kỳ, Liên đoàn 5 LLĐB
  • ARM: Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)
  • Bassac River: Sông Hậu
  • Bat "houses”: chuồng nuôi dơi trên cây
  • Border reconnaissance: biên phòng, trinh sát biên giới
  • Bungalow mines, Bangalore torpedo: bộc phá có tay cầm
  • Caribou aircraft: máy bay vận tải Caribou
  • Catholic Relief Agency: Cơ quan cứu trợ Thiên Chúa giáo
  • CIDG (Civilian Irregular Defense Group): Lực lượng dân sự chiến đấu, lực lượng phòng vệ dân sự, biệt kích quân, những người không thuộc tuổi quân dịch, đi đánh thuê, dân vệ
  • FOB (Forward Operations Base): Căn cứ hành quân tiền phương, sở chỉ huy tiền phương
  • Green Baret: Lính Mũ Nồi Xanh, Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ
  • Hamlet: Ấp Independent Operation: Hành quân độc lập
  • LCU, Landing Craft unit: Tàu đổ bộ
  • LLDB: Lực Lượng Đặc Biệt (LL Đặc Nhiệm) VNCH
  • MACV: Bộ tư lệnh quân sự và viện trợ Hoa Kỳ tại Việt Nam
  • Mike Force (Mobile Strike Force): Lực lượng Xung Kích lưu động, LL tiếp ứng
  • NVA: North Vietnam Army - Quân đội Bắc Việt
  • Outpost: tiền đồn
  • PF Outpost (Popular Force Outpost): đồn nghĩa quân, đồn biên phòng, đồn dân vệ
  • Propaganda leaflets: truyền đơn, tuyên truyền
  • Psychological operations: chiến dịch tâm lý, tâm lý chiến
  • Popular Force: Nghĩa quân hoặc Dân vệ (bán vũ trang, đi theo nghĩa vụ quân dịch), đơn vị quân cấp xã
  • Regional Forces: Địa phương quân (bán vũ trang, đi theo nghĩa vụ quân dịch), lính địa phương, đơn vị quân cấp quận, tỉnh
  • Purple Pimpernel: Huy chương hoa Phiên lộ đỏ tía
  • Seabee: Lực lượng công binh Hải quân Mỹ
  • Seven Mountains area: vùng Bảy núi
  • SFOP (Special Force Operation Base): Căn cứ hành quân LLĐB
  • SOG (Special Operation Group): Liên đoàn hành quân đặc biệt
  • Strike Forces: LL tác chiến
  • Striker: lính Dân vệ, lính Biệt kích
  • Unconventional Warfare: Chiến tranh Ngoại lệ, Chiến tranh không theo quy ước
  • VC, Việt cộng: quân Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
  • Village: Xã

Ghi chú về tổ chức quân đội Sài Gòn:

Vùng Tây Nam Bộ đặt thành Vùng 4 chiến thuật (quân khu 4).

  • Tỉnh - tiểu khu, các tiểu đoàn Địa phương quân thuộc tỉnh gọi là tiểu khu, tỉnh trưởng là quân nhân (cấp thiếu/trung/đại tá) kiêm tiểu khu trưởng
  • Quận - chi khu, các đại đội Địa phương quân thuộc quận gọi là chi khu, quận trưởng là quân nhân (cấp úy trở lên) kiêm chi khu trưởng
  • Xã - phân chi khu, lực lượng quân sự gọi là Nghĩa quân biên chế 1 trung đội, xã trưởng là dân sự không kiêm chức bên quân đội, trưởng quân sự là quân nhân cấp bậc thiếu úy, gọi là Phân chi khu trưởng
  • Còn lực lượng gọi là Nhân dân tự vệ là dân, nam tuổi từ 15-17 đều phải tham gia LL này, được trang bị súng carbine, garant với vài viên đạn, nhiệm vụ là gác đêm giữ an ninh trật tự trong phạm vi một ấp.

Đơn vị trong quân đội Mỹ:

  • Fireteam: Toán 4 người.
  • Squad: Tiểu Đội, gồm 2 đến 5
  • Fireteams (8-20 binh sĩ).
  • Detachment: Chi đội, Biệt đội
  • Platoon: Trung Đội, gồm 2 Squads trở lên (~40 binh sĩ).
  • Company: Đại Đội, gồm từ 4 đến 6 Platoons.
  • Battalion: Tiểu Đoàn, gồm từ 3 đến 5 Companies, 300-1200 binh sĩ.
  • Regiment, Group: Trung Đoàn, gồm 2-3 Battalions (2,000 đến 3,000 binh sĩ).
  • Brigade: Lữ Đoàn. Số binh sĩ tương đương Regiment nhưng đa dạng hơn.
  • Division: Sư Đoàn, gồm từ 2 đến 4 Brigades hoặc Regiments trở lên (10,000 đến 15,000 binh sĩ).
  • Corps: Quân Đoàn, gồm 2 Divisions (20,000 đến 40,000 ngàn binh sĩ).
  • Field Army: Lộ Quân, gồm từ 2 đến 4 Corps (60,000 đến 200,000 binh sĩ.
  • Army Groups: Liên Lộ Quân, gồm từ 2 Field Armies trở lên (kể cả quân đội đồng minh).
  • Theater: Chiến Trường, gồm 4 Army Groups trở lên.

Một số đơn vị khác trong chiến tranh VN:

  • A Team: phân đội "A" biên phòng, toán A LLĐB Hoa Kỳ
  • B Team: ban chỉ huy "B"
  • C Team: bộ chỉ huy "C"

Cấp bậc trong quân đội Mỹ (lục quân):

  • General (GA) Đại Tướng
  • Lieutenant General (LTG) Trung Tướng
  • Major General (MG) Thiếu Tướng
  • Brigadier General (BG) Chuẩn Tướng
  • Colonel (COL) Đại Tá
  • Lieutenant Colonel (LTC) Trung Tá
  • Major (MAJ) Thiếu Tá
  • Captain (CPT) Đại Úy
  • First Lieutenant (1LT) Trung Úy
  • Second Lieutenant (2LT) Thiếu Úy
  • Warrant Officers Sĩ Quan trung cấp, Chuẩn úy?
  • Cadet Học viên Sĩ quan
  • Sergeant Major (SGM) (E-9) Thượng sĩ Cố vấn, cấp bậc cao nhất của hàng hạ sĩ quan
  • Master Sergeant (MSG) (E-8) thượng sĩ, chuẩn thượng sĩ
  • First Sergeant (1SG) (E-8) Thượng sĩ nhất
  • Sergeant First Class (SFC) (E-7) Trung Sĩ bậc đầu, Trung sĩ nhất
  • Staff Sergeant (SSG) (E-6) Trung sỹ văn thư, trung đội trưởng, trung sĩ tham mưu
  • Sergeant (SGT) (E-5) Trung Sĩ
  • Corporal (CPL) (E-4) Hạ Sĩ
  • Specialist (SPC) Chuyên Viên, Hạ sĩ nghiệp vụ
  • Private First Class (PFC) (E-3) Binh Nhất
  • Private (PV2) Binh Nhì
  • Private (PV1) Tân Binh

Một số danh xưng khác:

  • Commander officer (CO): sĩ quan chỉ huy trưởng
  • Executive officer (XO): sĩ quan chỉ huy phó
  • Operation officer: sĩ quan tác chiến.
  • Wingman: phi công trợ thủ, số 2 của 1 biên đội.
  • Forward air controller: phi công/máy bay phối hợp hoạt động giữa KQ và BB, có thể tạm dịch là liên lạc tiền tuyến.
  • Aerial rocket artillery commander: chỉ huy đơn vị trực thăng vũ trang gắn rocket.
  • Platoon sergeant - trung đội phó, Trung sĩ của trung đội
  • Non-commissioned officer (NCO): Hạ sĩ quan, tức là sĩ quan không chỉ huy, gồm 3 cấp: hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ. Lính nghĩa vụ thì thường là lên đến cao lắm là trung sĩ là hết thời hạn phục vụ

Quân chủng

  • U.S Marine Corps: Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ ( Lính Thủy Đánh Bộ)
  • U.S Army Ranger: Biệt Kích Hoa Kỳ
  • U.S Aiborne Ranger: Biệt kích dù Hoa Kỳ.
  • U.S Navy: Hải Quân Hoa Kỳ.
  • U.S Special Force: Đặc nhiệm Hoa Kỳ
  • U.S Airborne Special Force: Đặc nhiệm dù Hoa Kỳ.
  • U.S Airborne: Không Quân Hoa Kỳ.....

Biệt kích

  • Ranger: Biệt động quân, họat động cấp tiểu đòan, đánh trận địa chiến, nhận diện qua chiếc mũ nồi đen ( Black Beret).
  • Special Force: Lực lượng đặc biệt, lực lượng Mũ Nồi Xanh (Green Beret) là lực lượng chiến đấu đơn độc, thường họat động cấp tiểu đội 12 người, thời gian huấn luyện lâu hơn nhiều so với Ranger. Thực hiện các nhiệm vụ can thiệp ở nước ngòai, tiến hành chiến tranh không quy ước, huấn luyện các lực lượng đối lập, chỉ đạo các cuộc nổi dậy, trinh thám, tình báo.
  • Delta Force: được thành lập năm 1977 dựa theo lực lượng SAS của Anh, chức năng chính là chống khủng bố. Thường tham gia các họat động đột kích, giải cứu con tin, bắt cóc, ám sát.
  • SEAL: Lực lượng đặc biệt trực thuộc hải quân. Có nhiều chức năng giống các lực lượng khác, và được huấn luyện thêm cho các họat động tác chiến trên biển.

Mục lục

Chương 1: Secret Orders - Mệnh Lệnh Tối Mật

Đoạn đầu Chương 1

Đoạn sau Chương 1

Chương 2: Massacre West of Rach Gia - Vụ thảm sát ở phía Tây Rạch Giá

Đoạn đầu Chương 2

Đoạn sau Chương 2

Chương 3: A TIGER NAMED LE - Mãnh hổ họ Lê

Đoạn đầu Chương 3

Đoạn sau Chương 3

Chương 4: TAKING THE WAR TO CAMBODIA

Chương 5: A TEST OF COURAGE

Chương 6: WAIT FOR THE SOUTHERN WIND

Chương 7: THE SHOTGUN

Chương 8: WE ALMOST BOUGHT THE FARM

Chương 9: BUT THEY’RE WOMEN, SIR!

Chương 10: HELL’S FURY UNLEASHED AT KHANH BINH

Chương 11: VICTORY AT KHANH BINH

Chương 12: MISSION: ASSASSINATE A PRINCE

Chương 13: APOCALYPSE AT AN PHU

Chương 14: WE FADE AWAY

Chương 15: A PRESIDENT’S FANTASY IS A SOLDIER’S CURSE

# Expendable Elite: One Soldier's Journey into Covert Warfare ## Biệt Đội Tinh Nhuệ: Hành Trình Trong Cuộc Chiến Bí Mật _Lược Dịch và Chú Giải._ ![Expendable Elite: One Soldier's Journey into Covert Warfare Biệt Đội Tinh Nhuệ: Hành Trình Trong Cuộc Chiến Bí Mật](https://i.imgur.com/rMaan9K.jpg) ### Tác giả: Daniel Marvin là một đại úy lính Mũ nồi xanh (đặc nhiệm) Hoa Kỳ khi tham chiến tại chiến trường Việt Nam (quận An Phú tỉnh Châu Đốc) những năm 1965-1966\. Ông sinh năm 1933, mất năm 2012 tại Hoa Kỳ với cấp bậc trung tá. ### Tác phẩm Expendable Elite: One Soldier's Journey into Covert Warfare là hồi ký của tác giả khi tham chiến tại quận An Phú, tỉnh Châu Đốc. Marvin kể lại các câu chuyện chiến đấu ở An Phú và tố cáo những tội ác mà CIA gây ra trong cuộc chiến. Quyển sách đã gây chấn động dư luận Hoa Kỳ khi tiết lội CIA đứng sau âm mưu ám sát quốc trưởng Campuchia. Các cựu binh mũ nồi xanh Hoa Kỳ từng hoạt động chung với tác giả ở An Phú cũng đã đâm đơn kiện Marvin. Tòa án đã kết luận Marvin thắng. [(Theo báo Thanh Niên)](http://biendong.thanhnien.com.vn/the-gioi/quanh-vu-kien-mot-cuon-sach-ve-chien-tranh-viet-nam-339765.html) Năm xuất bản: 2003. Bản dịch này dựa theo bản 2006 (tái bản lần thứ 2). Trang giới thiệu sách: [http://www.expendableelite.com/](http://www.expendableelite.com/) Bài viết giới thiệu về nội dung sách và hình ảnh tư liệu trên nguoianphu.com: [Những hình ảnh về quận An Phú tỉnh Châu Đốc trong các năm 1965-1966](http://www.nguoianphu.com/topic/24/nhung-hinh-anh-ve-quan-an-phu-tinh-chau-doc-trong-cac-nam-1965-1966) ### Các từ viết tắt và dịch nghĩa cho hợp lý: * 5th Special Forces Group, 1st Special Forces Regiment: Trung đoàn Lực lượng đặc biệt (LLDB) Hoa Kỳ, Liên đoàn 5 LLĐB * ARM: Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) * Bassac River: Sông Hậu * Bat "houses”: chuồng nuôi dơi trên cây * Border reconnaissance: biên phòng, trinh sát biên giới * Bungalow mines, Bangalore torpedo: bộc phá có tay cầm * Caribou aircraft: máy bay vận tải Caribou * Catholic Relief Agency: Cơ quan cứu trợ Thiên Chúa giáo * CIDG (Civilian Irregular Defense Group): Lực lượng dân sự chiến đấu, lực lượng phòng vệ dân sự, biệt kích quân, những người không thuộc tuổi quân dịch, đi đánh thuê, dân vệ * FOB (Forward Operations Base): Căn cứ hành quân tiền phương, sở chỉ huy tiền phương * Green Baret: Lính Mũ Nồi Xanh, Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ * Hamlet: Ấp Independent Operation: Hành quân độc lập * LCU, Landing Craft unit: Tàu đổ bộ * LLDB: Lực Lượng Đặc Biệt (LL Đặc Nhiệm) VNCH * MACV: Bộ tư lệnh quân sự và viện trợ Hoa Kỳ tại Việt Nam * Mike Force (Mobile Strike Force): Lực lượng Xung Kích lưu động, LL tiếp ứng * NVA: North Vietnam Army - Quân đội Bắc Việt * Outpost: tiền đồn * PF Outpost (Popular Force Outpost): đồn nghĩa quân, đồn biên phòng, đồn dân vệ * Propaganda leaflets: truyền đơn, tuyên truyền * Psychological operations: chiến dịch tâm lý, tâm lý chiến * Popular Force: Nghĩa quân hoặc Dân vệ (bán vũ trang, đi theo nghĩa vụ quân dịch), đơn vị quân cấp xã * Regional Forces: Địa phương quân (bán vũ trang, đi theo nghĩa vụ quân dịch), lính địa phương, đơn vị quân cấp quận, tỉnh * Purple Pimpernel: Huy chương hoa Phiên lộ đỏ tía * Seabee: Lực lượng công binh Hải quân Mỹ * Seven Mountains area: vùng Bảy núi * SFOP (Special Force Operation Base): Căn cứ hành quân LLĐB * SOG (Special Operation Group): Liên đoàn hành quân đặc biệt * Strike Forces: LL tác chiến * Striker: lính Dân vệ, lính Biệt kích * Unconventional Warfare: Chiến tranh Ngoại lệ, Chiến tranh không theo quy ước * VC, Việt cộng: quân Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam * Village: Xã ### Ghi chú về tổ chức quân đội Sài Gòn: Vùng Tây Nam Bộ đặt thành Vùng 4 chiến thuật (quân khu 4). * Tỉnh - tiểu khu, các tiểu đoàn Địa phương quân thuộc tỉnh gọi là tiểu khu, tỉnh trưởng là quân nhân (cấp thiếu/trung/đại tá) kiêm tiểu khu trưởng * Quận - chi khu, các đại đội Địa phương quân thuộc quận gọi là chi khu, quận trưởng là quân nhân (cấp úy trở lên) kiêm chi khu trưởng * Xã - phân chi khu, lực lượng quân sự gọi là Nghĩa quân biên chế 1 trung đội, xã trưởng là dân sự không kiêm chức bên quân đội, trưởng quân sự là quân nhân cấp bậc thiếu úy, gọi là Phân chi khu trưởng * Còn lực lượng gọi là Nhân dân tự vệ là dân, nam tuổi từ 15-17 đều phải tham gia LL này, được trang bị súng carbine, garant với vài viên đạn, nhiệm vụ là gác đêm giữ an ninh trật tự trong phạm vi một ấp. ### Đơn vị trong quân đội Mỹ: * Fireteam: Toán 4 người. * Squad: Tiểu Đội, gồm 2 đến 5 * Fireteams (8-20 binh sĩ). * Detachment: Chi đội, Biệt đội * Platoon: Trung Đội, gồm 2 Squads trở lên (~40 binh sĩ). * Company: Đại Đội, gồm từ 4 đến 6 Platoons. * Battalion: Tiểu Đoàn, gồm từ 3 đến 5 Companies, 300-1200 binh sĩ. * Regiment, Group: Trung Đoàn, gồm 2-3 Battalions (2,000 đến 3,000 binh sĩ). * Brigade: Lữ Đoàn. Số binh sĩ tương đương Regiment nhưng đa dạng hơn. * Division: Sư Đoàn, gồm từ 2 đến 4 Brigades hoặc Regiments trở lên (10,000 đến 15,000 binh sĩ). * Corps: Quân Đoàn, gồm 2 Divisions (20,000 đến 40,000 ngàn binh sĩ). * Field Army: Lộ Quân, gồm từ 2 đến 4 Corps (60,000 đến 200,000 binh sĩ. * Army Groups: Liên Lộ Quân, gồm từ 2 Field Armies trở lên (kể cả quân đội đồng minh). * Theater: Chiến Trường, gồm 4 Army Groups trở lên. ### Một số đơn vị khác trong chiến tranh VN: * A Team: phân đội "A" biên phòng, toán A LLĐB Hoa Kỳ * B Team: ban chỉ huy "B" * C Team: bộ chỉ huy "C" ### Cấp bậc trong quân đội Mỹ (lục quân): * General (GA) Đại Tướng * Lieutenant General (LTG) Trung Tướng * Major General (MG) Thiếu Tướng * Brigadier General (BG) Chuẩn Tướng * Colonel (COL) Đại Tá * Lieutenant Colonel (LTC) Trung Tá * Major (MAJ) Thiếu Tá * Captain (CPT) Đại Úy * First Lieutenant (1LT) Trung Úy * Second Lieutenant (2LT) Thiếu Úy * Warrant Officers Sĩ Quan trung cấp, Chuẩn úy? * Cadet Học viên Sĩ quan * Sergeant Major (SGM) (E-9) Thượng sĩ Cố vấn, cấp bậc cao nhất của hàng hạ sĩ quan * Master Sergeant (MSG) (E-8) thượng sĩ, chuẩn thượng sĩ * First Sergeant (1SG) (E-8) Thượng sĩ nhất * Sergeant First Class (SFC) (E-7) Trung Sĩ bậc đầu, Trung sĩ nhất * Staff Sergeant (SSG) (E-6) Trung sỹ văn thư, trung đội trưởng, trung sĩ tham mưu * Sergeant (SGT) (E-5) Trung Sĩ * Corporal (CPL) (E-4) Hạ Sĩ * Specialist (SPC) Chuyên Viên, Hạ sĩ nghiệp vụ * Private First Class (PFC) (E-3) Binh Nhất * Private (PV2) Binh Nhì * Private (PV1) Tân Binh Một số danh xưng khác: * Commander officer (CO): sĩ quan chỉ huy trưởng * Executive officer (XO): sĩ quan chỉ huy phó * Operation officer: sĩ quan tác chiến. * Wingman: phi công trợ thủ, số 2 của 1 biên đội. * Forward air controller: phi công/máy bay phối hợp hoạt động giữa KQ và BB, có thể tạm dịch là liên lạc tiền tuyến. * Aerial rocket artillery commander: chỉ huy đơn vị trực thăng vũ trang gắn rocket. * Platoon sergeant - trung đội phó, Trung sĩ của trung đội * Non-commissioned officer (NCO): Hạ sĩ quan, tức là sĩ quan không chỉ huy, gồm 3 cấp: hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ. Lính nghĩa vụ thì thường là lên đến cao lắm là trung sĩ là hết thời hạn phục vụ ### Quân chủng * U.S Marine Corps: Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ ( Lính Thủy Đánh Bộ) * U.S Army Ranger: Biệt Kích Hoa Kỳ * U.S Aiborne Ranger: Biệt kích dù Hoa Kỳ. * U.S Navy: Hải Quân Hoa Kỳ. * U.S Special Force: Đặc nhiệm Hoa Kỳ * U.S Airborne Special Force: Đặc nhiệm dù Hoa Kỳ. * U.S Airborne: Không Quân Hoa Kỳ..... ### Biệt kích * Ranger: Biệt động quân, họat động cấp tiểu đòan, đánh trận địa chiến, nhận diện qua chiếc mũ nồi đen ( Black Beret). * Special Force: Lực lượng đặc biệt, lực lượng Mũ Nồi Xanh (Green Beret) là lực lượng chiến đấu đơn độc, thường họat động cấp tiểu đội 12 người, thời gian huấn luyện lâu hơn nhiều so với Ranger. Thực hiện các nhiệm vụ can thiệp ở nước ngòai, tiến hành chiến tranh không quy ước, huấn luyện các lực lượng đối lập, chỉ đạo các cuộc nổi dậy, trinh thám, tình báo. * Delta Force: được thành lập năm 1977 dựa theo lực lượng SAS của Anh, chức năng chính là chống khủng bố. Thường tham gia các họat động đột kích, giải cứu con tin, bắt cóc, ám sát. * SEAL: Lực lượng đặc biệt trực thuộc hải quân. Có nhiều chức năng giống các lực lượng khác, và được huấn luyện thêm cho các họat động tác chiến trên biển. * * * # Mục lục ## Chương 1: Secret Orders - Mệnh Lệnh Tối Mật ### [Đoạn đầu Chương 1](http://www.nguoianphu.com/topic/10/expendable-elite-biet-doi-tinh-nhue/1#post-13) ### [Đoạn sau Chương 1](http://www.nguoianphu.com/topic/10/expendable-elite-biet-doi-tinh-nhue/1#post-14) ## Chương 2: Massacre West of Rach Gia - Vụ thảm sát ở phía Tây Rạch Giá ### [Đoạn đầu Chương 2](http://www.nguoianphu.com/topic/10/expendable-elite-biet-doi-tinh-nhue/1#post-15) ### [Đoạn sau Chương 2](http://www.nguoianphu.com/topic/10/expendable-elite-biet-doi-tinh-nhue/1#post-17) ## Chương 3: A TIGER NAMED LE - Mãnh hổ họ Lê ### [Đoạn đầu Chương 3](http://www.nguoianphu.com/topic/10/expendable-elite-biet-doi-tinh-nhue/2#post-212) ### Đoạn sau Chương 3 ## Chương 4: TAKING THE WAR TO CAMBODIA ## Chương 5: A TEST OF COURAGE ## Chương 6: WAIT FOR THE SOUTHERN WIND ## Chương 7: THE SHOTGUN ## Chương 8: WE ALMOST BOUGHT THE FARM ## Chương 9: BUT THEY’RE WOMEN, SIR! ## Chương 10: HELL’S FURY UNLEASHED AT KHANH BINH ## Chương 11: VICTORY AT KHANH BINH ## Chương 12: MISSION: ASSASSINATE A PRINCE ## Chương 13: APOCALYPSE AT AN PHU ## Chương 14: WE FADE AWAY ## Chương 15: A PRESIDENT’S FANTASY IS A SOLDIER’S CURSE
edited Sep 13 '17 lúc 9:48 am
 
0
trả lời

Chương 1: Mệnh Lệnh Tối Mật - Secret Orders

(đoạn đầu).

Phúc Âm John 8:32, Chúa Giê-su phán: "Rồi các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ cởi trói cho các ngươi”.

Trung tá Tuttle, Chỉ huy trưởng Lực Lượng Đặc Biệt Hòa Kỳ tại Quân Đoàn 4 (Vùng 4 Chiến Thuật) ở miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nói khẽ giọng:
- Dan, nếu anh chỉ huy Phân đội biên phòng A-424 và chấp hành nhiệm vụ tối mật này, anh sẽ được toàn quyền quyết định. Ngay khi anh rời khỏi căn phòng này, coi như chúng ta chưa hế gặp nhau. Chúng tôi không thể và sẽ không hỗ trợ anh nếu như anh bị phát hiện làm những điều mà tôi sẽ yêu cầu anh làm ngay sau đây. Anh rõ chứ, Đại úy?

Chúng tôi chợt bừng tỉnh, từ trong boongke chỉ huy nhìn sang phía bên kia biên giới, đối diện với vùng đất thiên đường Campuchia của đối phương. Khoảng 2.400 người lính Giải Phóng bên kia biên giới sẵn sàng tấn công Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu (phòng vệ dân sự) của chúng tôi. Họ, Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu, là những người làm nhiệm vụ tiền tiêu và mai phục dọc theo toàn tuyến biên giới.

Ngày 18, tháng 06, năm 1966.
Mặc dù thua kém cả về số lượng quân lính lẫn vũ khí so với đối phương, nhưng dựa trên những chiến thắng trước đây, chúng tôi tự tin có thể phòng thủ hơn 30KM biên giới và bảo đảm một khu vực an toàn cho hơn 64.000 thường dân. Sẽ là như thế, nếu như chỉ có đối phương là mối bận tâm duy nhất của chúng tôi.

Thiếu tá Phồi và tôi, cố trấn tĩnh, đứng cạnh hai bên khẩu súng máy Caliber 50 ly. Các nòng súng máy cùng chĩa hướng từ trại chỉ huy đặc nhiệm của chúng tôi sang phía bên kia biên giới Campuchia.

Hôm nay là một ngày vô cùng đặc biệt, cứ như là định mệnh, và nó sẽ được ghi nhớ mãi mãi trong quãng đời binh nghiệp của chúng tôi. Thiếu tá Phồi, đồng đội người Việt của tôi, là một chỉ huy can đảm và trung thực, một chiến binh kì cựu với 18 năm trên chiến trường. Tôi đỡ ông ấy, cứ như đang đỡ nam diễn viên cao 1m65 mà tôi yêu thích, John Wayne (ngôi sao phim cao bồi). "Đây là lần đầu tiên", ông ấy nói với tôi, "tôi thấy lo sợ vì những chuyện có thể xảy ra tại An Phú".

Ông ấy không hề kiêu ngạo, ngược lại không ngại ngần chia sẻ sự thật với tôi, như thể ông ấy là anh trai của tôi vậy. Chúng tôi đã đạt được thân tình. Thiếu tá (TT) Phồi là một trong số ít các chỉ huy luôn luôn kiên cường, không bao giờ lay chuyển lòng tự trọng hay trốn tránh nguy hiểm. Ông ấy luôn đi đầu khi tham chiến, và được biết đến như người bảo vệ an nguy cho những thường dân bất kể khi nào có thể. Trong thời điểm ngắn ngủi này, dễ hiểu khi ông ấy cảm thấy quẫn trí khi biết rằng mình sẽ không bao giờ có thể bảo vệ người dân An Phú nữa.

Xin chia sẻ lại một chút tâm sự. Chỉ mới cách đây 2 ngày, tôi đã đuổi cổ Đặc vụ CIA Walter McKem ra khỏi trại của tôi. Hắn ta tức tối bỏ đi và đay nghiến hét lớn:
- Mày không thể chống lại Chế Độ, Đại úy, bởi vì mày không thể thắng nổi đâu.

Ngày 20 tháng 6 năm 1966, tôi và TT Phồi đang cùng nhau suy nghĩ về tình hình và các biện pháp đối phó.
Vừa ngay trước đó, chúng tôi nhận được tin từ Đặc vụ ở Tỉnh lỵ Châu Đốc gửi tới, một Trung đoàn khoảng 1.500 quân kèm trang bị hạng nặng của quân lực Việt Nam cộng hòa (VNCH) cùng các cố vấn Hoa Kỳ đang cấp tốc tập hợp trước cổng Ban chỉ huy B (ở Châu Đốc) để chuẩn bị tấn công lên trại của chúng tôi (phân đội A). Tàu đổ bộ có thể chở họ với nhiều vũ khí, chạy ngược dòng sông Hậu để tấn công trại của chúng tôi. Xuồng bè tắc ngẽn trên sông do bị chặn bởi tàu của họ.
TT Phồi quay qua tôi, rướn người bắt tay. Cả hai biết rằng thời khắc còn được đứng cạnh nhau sẽ rất ngắn ngủi. Tôi chỉ có thể cầu mong phép màu xảy ra ngay lúc này. TT Phồi nhìn thẳng vào mắt tôi, làm như những khi ông ấy thực sự thấy nghiêm trọng.

- Tôi hi vọng Mật phái viên của chúng ta ở Hòa Hảo đã tới được chỗ Tướng Quang đúng lúc để ngăn chặn cuộc thảm sát này.

Nước mắt rơi ra trên đôi mắt ông ấy. Tôi chưa từng thấy ông ấy khóc, nhưng tôi biết ông ấy yêu thương người của mình. Ông ấy thực sự lo lắng rằng họ sẽ bị hành hạ, thậm chí bị giết bởi bàn tay của quân lính VNCH.

- Và tôi mong là Tướng Quang sẽ đứng về phe của chúng ta.

Tôi đáp lại, mặc dù tôi chưa hề biết vị Tướng này và lòng dạ ông ấy ra sao. Không như TT Phồi, với tư cách là cố vấn quân sự của Ban trị sự trung ương Hòa Hảo, ông ấy đã cộng tác với Tướng Quang trong quá khứ.

TT Phồi liếc nhìn sang phía tôi, khẽ mỉm cười:

- Tôi không nghi ngờ chuyện đó, Đại Úy, không một chút nào.

Tôi sẽ không bao giờ tin nổi điều này khi tôi hô vang lời thể bảo vệ Tổ Quốc, thế nhưng giờ đây chính quyền Hoa Kỳ lại tung toàn lực và hạ lệnh tiêu diệt đội của tôi và những người mà chúng tôi đã giúp đỡ. Đây là một bằng chứng gây sốc, một sự nguy hiểm ẩn dấu trong các Chiến dịch bí mật. Mối đe dọa thảm khốc đang xảy đến, nó sẽ nhấn chìm chúng tôi vào chỗ chết. Chỉ bởi vì tôi bảo vệ những lý lẽ mà tôi cho là chính nghĩa và chống lại những mệnh lệnh táng tận lương tâm của CIA (Cơ quan tình báo Trung Ương Hoa Kỳ). Cuối cùng, cái ngày tưởng như không bao giờ xảy ra ấy, nó đang đang thực sự sống lại qua những trang sách mà tôi sẽ thổ lộ sau đây, những sự thật mà tôi, khi ấy đang là một vị Đại Úy lính mũ nồi xanh 32 tuổi, tham chiến tại Việt Nam.

Daniel Marvin và Thiếu tá Lê Văn Phồi
Daniel Marvin và Thiếu tá Lê Văn Phồi

Thiếu tá Lê Văn Phồi là chỉ huy trưởng lực lượng đặc biệt VNCH tại An Phú. Trung tướng Đặng Văn Quang giữ chức Tư lệnh Quân đoàn IV & Vùng 4 Chiến thuật.


Bí mật được giữ kín nghiêm ngặt suốt nhiều tháng trời khi tham gia huấn luyện về chiến thuật du kích và chống du kích. Sau khi vượt qua bài thử thách cuối và giành lấy quyền đội lên đầu chiếc mũ nồi xanh, chúng tôi nói rất ít về những thứ mà chúng tôi đã học được với gia đình và bạn bè. Bí mật được che dấu kỹ với cả gia đình, những người bạn ngoài ngành, và cả vợ con.

Khi Kate và tôi cùng nói lời đính ước vào tháng 10 năm 1956, tôi 23 tuổi, đang là trung sĩ không quân thuộc sư đoàn 82 Không quân ở Fort Bragg, North Carolina. Chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên khoảng 7 năm trước đó, tại một lớp dạy khiêu vũ ở Enfield Center, New York. Lúc ấy tôi 16 tuổi, là con riêng của một người nông dân, ba dượng tôi có mua 1 con ngựa của ba cô ấy, còn cô ấy lúc đó 13 tuổi.

Ngày Tổng thống Kenedy bị ám sát, chúng tôi đang đóng quân ở Yuma Proving Grounds, bang Arizona. Tôi lập tức tình nguyện gia nhập Lực lượng đặc biệt, khát khao được giành lấy và tự tay đội lên chiếc mũ nồi xanh. Khát khao lớn nhất của tôi là trở thành 1 người lính đặc nhiệm, những người được khen ngời là ưu tú nhất trong trong quân đội.

Làm vợ của một người lính đặc nhiệm, chắc Kate phải cảm thấy đau đớn lắm mỗi khi nói chào tạm biệt khi tôi đi làm nhiệm vụ. Không được biết tôi sẽ đi đâu, bao lâu và nguy hiểm ra sao. Nhiệm vụ buộc tôi chỉ có thể nói rất sơ lược với cô ây. Nếu viết thư, tôi chỉ nói rất ít để hạn chế bất cứ chi tiết nào liên quan tới nhiệm vú bí mật.

Kate đã biết được hầu hết những gì tôi đã làm trong quãng đời binh nghiệp của mình, tôi cũng cho cô ấy biết về những nhiệm vụ bí mật của mình. Lúc đó đã là 20 năm sau khi tôi giành được chiếc mũ nồi xanh. Tôi không lường trước phản ứng của cô ấy khi biết sự thật, chỉ nghĩ rằng cô ấy sẽ vui khi biết được những việc mà một người lính đặc nhiệm thực hiện trong các cuộc Chiến tranh không theo quy ước (Chiến tranh ngoại lệ). Sau khi thấy được mặt trái của chiến tranh du kích, nhiệm vụ phá hoại, phương pháp thẩm vấn và các chiến dịch sai trái hay thậm chí chống lại Luật pháp Quốc tế về chiến tranh, như ám sát và khủng bố, Kate cực kỳ choáng váng. Một ngày mùa Xuân năm 1984, cô ấy buột miệng nói:

- Anh không phải là người mà em đã lấy làm chồng.

Chưa bào giờ cô ấy nói đúng hơn vậy. Đời là thế, dù làm người khác thấy khó chịu, tôi lại thấy máu mình sôi sục.


Ngày 22 tháng 11 năm 1965, 64 người lính mũ nồi xanh chúng tôi từ máy bay hạ cánh xuống miền Nam Việt Nam từ độ cao 3km, lo lắng để đáp xuống mặt đất và tham gia vào hoạt động quân sự mà chúng tôi được yêu cầu. Chúng tôi tiến vào không phận sân bay Tân Sơn Nhất trên chiếc máy bay sang trọng của Southern Air Transport, liếc nhìn qua cửa sổ, chúng tôi thấy những việt sáng của súng pháo nổ ở phía xa, quá xa để làm hỏng cuộc hạ cánh hoàn hảo nhưng có phần vội vã của chúng tôi. Máy bay dừng, chúng tôi cùng nhau lấy đồ đạc rời khỏ máy bay. Và như ngay lập tức, được chào đón bằng cái nóng gần 40 độ C và ẩm ướt.

Một hạ sĩ thuốc đơn vị số 5 Lực Lượng Đặc Biệt (5th Special Forces Group, 1st Special Forces Regiment: Trung đoàn LLDB Hoa Kỳ) gặp chúng tôi và chỉ về hướng chiếc máy báy Caribou của Không quân đang đợi, cách khoảng 100m. Hai cánh quạt máy bay vẫn quay, nhân viên điều hành bay nhắc chúng tôi chạy lên thang máy bay để lên boong và xếp hành lý, thắt dây an toàn trên ghế. Trong vài phút, chúng tôi lại trở lại không trung, hướng về phía bộ chỉ huy lực lượng ở Nha Trang, cách Saigon 350km về hướng Đông Bắc, trên bờ biển Đông.

Hai ngày trước, tôi tạm biệt Kate và 3 cô con gái ở sân bay ngoại ô Ithaca, New York. Chúng tôi tạm biệt trong cái lạnh âm 3 độ C, gió lạnh buốt và tuyết rơi dày vài inches. Tôi cố vẫy tay chào qua cửa sổ chỗ tôi đang ngồi, nhưng tuyết rơi xoáy tít khiến tôi không tài nào thấy được chỗ họ đang đứng. Tôi hi vọng Kate có thể lái chiếc xe mới mua, Volkswagen Beetle, về nhà bình an. Trong thâm tâm tôi biết cô ấy có thể vượt qua những khó khăn khi chúng tôi xa nhau. Ithaca là quê của cô ấy, cũng là nơi chúng tôi gặp gỡ và kết hôn. Nếu có chuyện gì xảy ra khi tôi vắng nhà, tôi tin gia đình cô ấy sống ở gần đó sẽ giúp đỡ cô ấy các con. Chuyến bay từ Ithaca đến sân bay thành phố Fayetteville, North Carolina yên ổn, và chuyến taxi đến căn cứ không quân Pope, liền kề Fort Bragg, cũng nhanh chóng và thoải mái. Nhân viên căn cứ Pope cho tôi vào và dẫn lên chiếc máy bay lớn của Southern Air Transport, động cơ của nó đang chạy và 63 binh lính Lực Lượng Đặc Biệt đang ngồi sẵn. CIA tham gia nhiêu hoạt động bí mật trên toàn cầu, các binh sĩ LLDB thường xuyên được đưa đến những địa điểm khác nhau, trên các chuyến bay và máy bay chuyên biệt. Đây đúng là một chuyến bay hạng sang, tiếp viên hàng không xinh đẹp, đồ uống miễn phí, thức ăn ngon, cứ như đang trong các bộ phim của John Wayne.

Chúng tôi đáp xuống căn cứ không quân Nha Trang, đậu trên đường láng nhựa và xuống máy bay trong cảnh tượng hối hả. Ngay lập tức thấy được, kể cả người vô tình nhìn qua, hỗ trợ hậu cần cho tất cả trại LLDB ở miền Nam VN là một công việc khắt khe và hao tổn.

Chúng tôi nhìn thấy hội trường khi ngang qua lúc vào doanh trại, không như tưởng tượng nhưng cũng đủ để ngủ gục.

Bộ chỉ huy lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ tại Nha Trang
Bộ chỉ huy lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ tại Nha Trang

7 giờ sáng hôm sau, một bữa ăn sáng vui vẻ để chào đón chúng tôi. 3 chỉ huy khác và tôi báo cáo với Phòng chỉ dẫn, và tham dự một loạt các buổi họp định hướng do Chỉ huy trưởng, Đại tá William McKean và người của ông ấy thực hiện.

Chúng tôi được chỉ dẫn về công tác hậu cần, bao gồm hỗ trợ hàng không cấp tốc, các kênh liên lạc khi thiếu thốn đạn dược, hỗ trợ trên chiến trường qua radio tới Trung tâm hỗ trợ hậu cần. Các chuyên viên kỹ thuật hàng không, do Trung úy Peter Teasdale chỉ huy, thông qua mật mã của LLDB sẽ gửi đạn dược tới khu vực của các trại có yêu cầu, trong vòng vài tiếng đồng.

Trung úy Teasdale từng là trợ lý của tôi khi còn ở Fort Bragg, quen thuộc với hệ thống mật mã. Mật mã thường bao gồm các chi tiết như vũ khí, đạn, thuốc, phuong tiện liên lạc, các loại kích nổ, xăng dầu, thực phẩm, và các loại quân nhu khác cho hoạt động. Đóng gói các thứ vào một chỗ, gắn dù vào. Mỗi gói hàng có 3 mã số, mã Morse hoặc phiếu 1 lần đọc, làm đơn giản để nhanh chóng chuyển đúng hàng đến đúng nơi và đúng lúc.

Chỉ huy tình báo (S-2) là người tiếp theo lên phát biểu. Bắt đầu bằng việc tóm tắt các hoạt động chính của các trại LLDB tại miền Nam VN trong 24 giờ tới, ông ta cho chúng tôi thấy tổng thể về các hoạt động tình báo, một bảng tóm tắt về tình hình và tiên đoán các hoạt động sắp tới của đối phương. Ông ta khiến chúng tôi nhận thấy sâu sắc rằng phải cần có một mạng lưới tình báo tốt, bằng cách sử dụng các tài sản tại chỗ của từng trại LLDB. Ông ta cảnh báo chúng tôi về việc mua các tin tình báo, bởi theo các báo cáo, các điệp viên bán tin tức thường đưa tin vô dụng, lắm lúc nguy hiểm, thổi phòng về vị trí, sức mạnh, vũ khí của đối phương.

S-3 tiếp nối. Cầm một cây gậy gỗ bịt kim loại ở đầu, ông ta chỉ cho chúng tôi thấy vị trí các trại LLDB ở miền Nam VN, trên tấm bản đồ kéo dài từ trần xuống tới sàn nhà. Chữ phân loại bảo vệ "MẬT" được đóng dấu ở trên và dưới cùng, to, đậm, màu đỏ. Ông ta chỉ ra 78 trại Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu (Civilian Irregular Defense Group - CIDG - LLDSCD), bắt đầu ở phía Bắc từ Khe Sanh, kéo dài xuống phía Nam. Nhiều trại nằm trên hoặc kế bên biên giới miền Nam VN với Lào và Campuchia, dài xuống phía Nam là một tiền đồn có từ thời Pháp ở Hà Tiên, ngăn cách với Campuchia bằng 1 vịnh nhỏ trong vịnh Thái Lan.

Ông ta cho chúng tôi biết có 1.592 lính đặc nhiệm Mỹ tại VN, khoảng 28.200 lính thuộc lực lượng CIDG. Ngoài ra còn có khoảng 2.300 quân không chính quy trong đơn vị Mike Force. LL CIDG được huấn luyện, trang bị và chỉ huy bởi phân đội "A" biên phòng của LLDB Việt Nam (VNCH). Nhưng họ được trả lương, cấp chỗ ở, thức ăn, hỗ trợ và cố vấn bởi phân đội "A" của LLDB Hoa Kỳ. Hầu hết lính CIDG, ông ta nói, được tuyển mộ tại chỗ để bảo vệ chính nhà cửa của họ, chống lại quân Giải Phóng và quân chính quy của miền Bắc VN. Chương trình bao gồm: người dân tộc Khmer, tín đồ hai giáo phái Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài, dân tộc Hoa và các dân tộc ở Tây Nguyên.

Ông ấy bỏ thời gian để cho chúng tôi thấy sự độc nhất vô nhị của đơn vị MIKE Force (lực lượng xung kích). Họ được trang bị như một lực lượng phản ứng cơ động, luôn sẵn sàng ứng cứu các trại LLDB khi có nguy biến. Tất cả các đơn vị MIKE Force đều được chỉ huy bởi người thuộc LLDB Hoa Kỳ. Thêm vào đó, tổng cộng hơn 28.800 lính bán quân sự thuộc Địa phương quân, Nghĩa quân hoạt động tại các khu vực, dựa trên sự cố vấn của nhân viên LLDB Mỹ. Ông ta nhấn mạnh điểm quan trọng của báo cáo: The Monthly Operational Summary (MOPSUM), Situation Reports (SITREPs) and Spot Intelligence Reports (SPOTREPs). Mỗi báo cáo đều được xem xét tại Tổng hành dinh của lực lượng để các nhân viên nắm được tình hình trên chiến trường. Báo cáo đúng lúc và chính xác là công việc cần thiết của công tác hậu cần tại các chiến trường Chiến tranh Không quy ước suốt dọc miền Nam VN. Xác định chính xác hoạt động của đối phương tại mỗi khu vực của từng đội sẽ giúp hậu chần thả hàng hỗ trợ xuống đúng chỗ nhất trong trường hợp cấp bách.

Ông ta ngừng lại uống 1 ngụm nước trong cái ly thủy tinh đặt trên bục diễn giả, đề nghị chúng tôi giữ câu hỏi cho tới cuối buổi họp và sẽ trả lời mọi câu hỏi còn lại phía sau phòng họp.
Sĩ quan Dân sự vụ S-5 (Civil Affairs Officer), chịu trách nhiệm về các hoạt động dân sự và chiến dịch tâm lý chiến, lên báo cáo tiếp. Ông ta làm chúng tôi thấy mạnh mẽ, thách thức, và cả kích động tinh thần khi đi ngang phòng làm việc của ông ấy, minh chứng cho tầm quan trọng khi chiến thắng được trái tim mà khối óc của con người. Ông ấy tạo ra sức ảnh hưởng bằng sự hăng hái và giúp đỡ chúng tôi hiểu rằng tại sao phải dành ít nhất một nửa công sức của cả đội cho các hoạt động dân sự và tâm lý chiến, nếu chúng tôi muốn thành công.

- "Trong nhiều năm", ông ta nói, "chính quyền Saigon đã phớt lờ nhu cầu và nguyện vọng của người dân tộc Tây Nguyên, tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài và dân tộc Khmer. Hậu quả là, không có 1 chút lòng trung thành nào trong các nhóm này với chính quyền Saigon".
- "Tất cả bọn họ", ông ta giải thích, "là cư dân chính ở vùng nông thôn, nhưng thiếu lòng yêu nước, dễ bị tuyên truyền Chủ nghĩa Cộng Sản bởi quân Giải Phóng".

Một trong những thử thách chính của chúng tôi là giảm thiểu và dần dần bỏ qua một bên sự thờ ơ với chính quyền, một số trường hợp, có hành động quân sự với các nhóm này. Ông ta cũng giải thích tại sao các Chương trình Dân sự sẽ được phát triển bởi khi phân đội A của chúng tôi hợp tác với các đồng sự người Việt trong LLDB, xã trưởng, quan chức quận ở các địa phương.

Đầu tiên họ xác định nhu cầu thực tế của người dân, đánh giá năng lực của chính quyền địa phương, và LLDB Hoa Kỳ sẽ đáp ứng những nhu cầu được cho là cấp thiết nhất. Chương trình bao gồm xây dựng cầu, trường học, bến tàu, làm đường xá và tuần tra y tế. Dễ thấy rằng quân y LLDB là những ngưới có giá trị nhất trong chiến dịch của phân đội A, bởi họ hằng ngày đều đi ra khỏi thị trấn, tới các ấp nhỏ nhất, chữa trị bệnh, vết thương cho người dân địa phương, đặc biệt là trẻ em và người già. Tất cả những việc mà đội làm cho người dân là để phát triển và nuôi dưỡng lòng trung thành, để xem họ như những người bạn của chúng tôi trong cuộc đấu tranh chống lại sự nổi dậy của chủ nghĩa CS.

- "Có lòng tin, thì lòng trung thành đến theo", ông ta nhấn mạnh, "một trách nhiệm quan trong cho mỗi thành viên phân đội A, đó là, cố gắng chuyển hướng lòng trung thành đó vào chính quyền Saigon. Không dễ chút nào", ông ta kết luận, "nhưng các anh phải ưu hiên điều đó lên hàng đầu. Tất cả chúng ta rồi sẽ trở về nhà, và thật tệ, nếu những việc chúng ta đã làm biến thành hư vô".

Kế đó ông ta giới thiệu sĩ quan phụ tá và bước xuống.

## Chương 1: Mệnh Lệnh Tối Mật - Secret Orders #### (đoạn đầu). **_Phúc Âm John 8:32, Chúa Giê-su phán: "Rồi các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ cởi trói cho các ngươi”._** >Trung tá Tuttle, Chỉ huy trưởng Lực Lượng Đặc Biệt Hòa Kỳ tại Quân Đoàn 4 (Vùng 4 Chiến Thuật) ở miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nói khẽ giọng: *- Dan, nếu anh chỉ huy Phân đội biên phòng A-424 và chấp hành nhiệm vụ tối mật này, anh sẽ được toàn quyền quyết định. Ngay khi anh rời khỏi căn phòng này, coi như chúng ta chưa hế gặp nhau. Chúng tôi không thể và sẽ không hỗ trợ anh nếu như anh bị phát hiện làm những điều mà tôi sẽ yêu cầu anh làm ngay sau đây. Anh rõ chứ, Đại úy?* Chúng tôi chợt bừng tỉnh, từ trong boongke chỉ huy nhìn sang phía bên kia biên giới, đối diện với vùng đất thiên đường Campuchia của đối phương. Khoảng 2.400 người lính Giải Phóng bên kia biên giới sẵn sàng tấn công Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu (phòng vệ dân sự) của chúng tôi. Họ, Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu, là những người làm nhiệm vụ tiền tiêu và mai phục dọc theo toàn tuyến biên giới. Ngày 18, tháng 06, năm 1966. Mặc dù thua kém cả về số lượng quân lính lẫn vũ khí so với đối phương, nhưng dựa trên những chiến thắng trước đây, chúng tôi tự tin có thể phòng thủ hơn 30KM biên giới và bảo đảm một khu vực an toàn cho hơn 64.000 thường dân. Sẽ là như thế, nếu như chỉ có đối phương là mối bận tâm duy nhất của chúng tôi. Thiếu tá Phồi và tôi, cố trấn tĩnh, đứng cạnh hai bên khẩu súng máy Caliber 50 ly. Các nòng súng máy cùng chĩa hướng từ trại chỉ huy đặc nhiệm của chúng tôi sang phía bên kia biên giới Campuchia. Hôm nay là một ngày vô cùng đặc biệt, cứ như là định mệnh, và nó sẽ được ghi nhớ mãi mãi trong quãng đời binh nghiệp của chúng tôi. Thiếu tá Phồi, đồng đội người Việt của tôi, là một chỉ huy can đảm và trung thực, một chiến binh kì cựu với 18 năm trên chiến trường. Tôi đỡ ông ấy, cứ như đang đỡ nam diễn viên cao 1m65 mà tôi yêu thích, John Wayne (ngôi sao phim cao bồi). *"Đây là lần đầu tiên"*, ông ấy nói với tôi, *"tôi thấy lo sợ vì những chuyện có thể xảy ra tại An Phú"*. Ông ấy không hề kiêu ngạo, ngược lại không ngại ngần chia sẻ sự thật với tôi, như thể ông ấy là anh trai của tôi vậy. Chúng tôi đã đạt được thân tình. Thiếu tá (TT) Phồi là một trong số ít các chỉ huy luôn luôn kiên cường, không bao giờ lay chuyển lòng tự trọng hay trốn tránh nguy hiểm. Ông ấy luôn đi đầu khi tham chiến, và được biết đến như người bảo vệ an nguy cho những thường dân bất kể khi nào có thể. Trong thời điểm ngắn ngủi này, dễ hiểu khi ông ấy cảm thấy quẫn trí khi biết rằng mình sẽ không bao giờ có thể bảo vệ người dân An Phú nữa. Xin chia sẻ lại một chút tâm sự. Chỉ mới cách đây 2 ngày, tôi đã đuổi cổ Đặc vụ CIA Walter McKem ra khỏi trại của tôi. Hắn ta tức tối bỏ đi và đay nghiến hét lớn: *- Mày không thể chống lại Chế Độ, Đại úy, bởi vì mày không thể thắng nổi đâu.* Ngày 20 tháng 6 năm 1966, tôi và TT Phồi đang cùng nhau suy nghĩ về tình hình và các biện pháp đối phó. Vừa ngay trước đó, chúng tôi nhận được tin từ Đặc vụ ở Tỉnh lỵ Châu Đốc gửi tới, một Trung đoàn khoảng 1.500 quân kèm trang bị hạng nặng của quân lực Việt Nam cộng hòa (VNCH) cùng các cố vấn Hoa Kỳ đang cấp tốc tập hợp trước cổng Ban chỉ huy B (ở Châu Đốc) để chuẩn bị tấn công lên trại của chúng tôi (phân đội A). Tàu đổ bộ có thể chở họ với nhiều vũ khí, chạy ngược dòng sông Hậu để tấn công trại của chúng tôi. Xuồng bè tắc ngẽn trên sông do bị chặn bởi tàu của họ. TT Phồi quay qua tôi, rướn người bắt tay. Cả hai biết rằng thời khắc còn được đứng cạnh nhau sẽ rất ngắn ngủi. Tôi chỉ có thể cầu mong phép màu xảy ra ngay lúc này. TT Phồi nhìn thẳng vào mắt tôi, làm như những khi ông ấy thực sự thấy nghiêm trọng. *- Tôi hi vọng Mật phái viên của chúng ta ở Hòa Hảo đã tới được chỗ Tướng Quang đúng lúc để ngăn chặn cuộc thảm sát này.* Nước mắt rơi ra trên đôi mắt ông ấy. Tôi chưa từng thấy ông ấy khóc, nhưng tôi biết ông ấy yêu thương người của mình. Ông ấy thực sự lo lắng rằng họ sẽ bị hành hạ, thậm chí bị giết bởi bàn tay của quân lính VNCH. *- Và tôi mong là Tướng Quang sẽ đứng về phe của chúng ta.* Tôi đáp lại, mặc dù tôi chưa hề biết vị Tướng này và lòng dạ ông ấy ra sao. Không như TT Phồi, với tư cách là cố vấn quân sự của Ban trị sự trung ương Hòa Hảo, ông ấy đã cộng tác với Tướng Quang trong quá khứ. TT Phồi liếc nhìn sang phía tôi, khẽ mỉm cười: *- Tôi không nghi ngờ chuyện đó, Đại Úy, không một chút nào.* Tôi sẽ không bao giờ tin nổi điều này khi tôi hô vang lời thể bảo vệ Tổ Quốc, thế nhưng giờ đây chính quyền Hoa Kỳ lại tung toàn lực và hạ lệnh tiêu diệt đội của tôi và những người mà chúng tôi đã giúp đỡ. Đây là một bằng chứng gây sốc, một sự nguy hiểm ẩn dấu trong các Chiến dịch bí mật. Mối đe dọa thảm khốc đang xảy đến, nó sẽ nhấn chìm chúng tôi vào chỗ chết. Chỉ bởi vì tôi bảo vệ những lý lẽ mà tôi cho là chính nghĩa và chống lại những mệnh lệnh táng tận lương tâm của CIA (Cơ quan tình báo Trung Ương Hoa Kỳ). Cuối cùng, cái ngày tưởng như không bao giờ xảy ra ấy, nó đang đang thực sự sống lại qua những trang sách mà tôi sẽ thổ lộ sau đây, những sự thật mà tôi, khi ấy đang là một vị Đại Úy lính mũ nồi xanh 32 tuổi, tham chiến tại Việt Nam. ![Daniel Marvin và Thiếu tá Lê Văn Phồi](http://i.imgur.com/WrdJ0Bm.gif) Daniel Marvin và Thiếu tá Lê Văn Phồi > Thiếu tá Lê Văn Phồi là chỉ huy trưởng lực lượng đặc biệt VNCH tại An Phú. Trung tướng Đặng Văn Quang giữ chức Tư lệnh Quân đoàn IV & Vùng 4 Chiến thuật. --- Bí mật được giữ kín nghiêm ngặt suốt nhiều tháng trời khi tham gia huấn luyện về chiến thuật du kích và chống du kích. Sau khi vượt qua bài thử thách cuối và giành lấy quyền đội lên đầu chiếc mũ nồi xanh, chúng tôi nói rất ít về những thứ mà chúng tôi đã học được với gia đình và bạn bè. Bí mật được che dấu kỹ với cả gia đình, những người bạn ngoài ngành, và cả vợ con. Khi Kate và tôi cùng nói lời đính ước vào tháng 10 năm 1956, tôi 23 tuổi, đang là trung sĩ không quân thuộc sư đoàn 82 Không quân ở Fort Bragg, North Carolina. Chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên khoảng 7 năm trước đó, tại một lớp dạy khiêu vũ ở Enfield Center, New York. Lúc ấy tôi 16 tuổi, là con riêng của một người nông dân, ba dượng tôi có mua 1 con ngựa của ba cô ấy, còn cô ấy lúc đó 13 tuổi. Ngày Tổng thống Kenedy bị ám sát, chúng tôi đang đóng quân ở Yuma Proving Grounds, bang Arizona. Tôi lập tức tình nguyện gia nhập Lực lượng đặc biệt, khát khao được giành lấy và tự tay đội lên chiếc mũ nồi xanh. Khát khao lớn nhất của tôi là trở thành 1 người lính đặc nhiệm, những người được khen ngời là ưu tú nhất trong trong quân đội. Làm vợ của một người lính đặc nhiệm, chắc Kate phải cảm thấy đau đớn lắm mỗi khi nói chào tạm biệt khi tôi đi làm nhiệm vụ. Không được biết tôi sẽ đi đâu, bao lâu và nguy hiểm ra sao. Nhiệm vụ buộc tôi chỉ có thể nói rất sơ lược với cô ây. Nếu viết thư, tôi chỉ nói rất ít để hạn chế bất cứ chi tiết nào liên quan tới nhiệm vú bí mật. Kate đã biết được hầu hết những gì tôi đã làm trong quãng đời binh nghiệp của mình, tôi cũng cho cô ấy biết về những nhiệm vụ bí mật của mình. Lúc đó đã là 20 năm sau khi tôi giành được chiếc mũ nồi xanh. Tôi không lường trước phản ứng của cô ấy khi biết sự thật, chỉ nghĩ rằng cô ấy sẽ vui khi biết được những việc mà một người lính đặc nhiệm thực hiện trong các cuộc Chiến tranh không theo quy ước (Chiến tranh ngoại lệ). Sau khi thấy được mặt trái của chiến tranh du kích, nhiệm vụ phá hoại, phương pháp thẩm vấn và các chiến dịch sai trái hay thậm chí chống lại Luật pháp Quốc tế về chiến tranh, như ám sát và khủng bố, Kate cực kỳ choáng váng. Một ngày mùa Xuân năm 1984, cô ấy buột miệng nói: *- Anh không phải là người mà em đã lấy làm chồng.* Chưa bào giờ cô ấy nói đúng hơn vậy. Đời là thế, dù làm người khác thấy khó chịu, tôi lại thấy máu mình sôi sục. --- Ngày 22 tháng 11 năm 1965, 64 người lính mũ nồi xanh chúng tôi từ máy bay hạ cánh xuống miền Nam Việt Nam từ độ cao 3km, lo lắng để đáp xuống mặt đất và tham gia vào hoạt động quân sự mà chúng tôi được yêu cầu. Chúng tôi tiến vào không phận sân bay Tân Sơn Nhất trên chiếc máy bay sang trọng của Southern Air Transport, liếc nhìn qua cửa sổ, chúng tôi thấy những việt sáng của súng pháo nổ ở phía xa, quá xa để làm hỏng cuộc hạ cánh hoàn hảo nhưng có phần vội vã của chúng tôi. Máy bay dừng, chúng tôi cùng nhau lấy đồ đạc rời khỏ máy bay. Và như ngay lập tức, được chào đón bằng cái nóng gần 40 độ C và ẩm ướt. Một hạ sĩ thuốc đơn vị số 5 Lực Lượng Đặc Biệt (5th Special Forces Group, 1st Special Forces Regiment: Trung đoàn LLDB Hoa Kỳ) gặp chúng tôi và chỉ về hướng chiếc máy báy Caribou của Không quân đang đợi, cách khoảng 100m. Hai cánh quạt máy bay vẫn quay, nhân viên điều hành bay nhắc chúng tôi chạy lên thang máy bay để lên boong và xếp hành lý, thắt dây an toàn trên ghế. Trong vài phút, chúng tôi lại trở lại không trung, hướng về phía bộ chỉ huy lực lượng ở Nha Trang, cách Saigon 350km về hướng Đông Bắc, trên bờ biển Đông. *Hai ngày trước, tôi tạm biệt Kate và 3 cô con gái ở sân bay ngoại ô Ithaca, New York. Chúng tôi tạm biệt trong cái lạnh âm 3 độ C, gió lạnh buốt và tuyết rơi dày vài inches. Tôi cố vẫy tay chào qua cửa sổ chỗ tôi đang ngồi, nhưng tuyết rơi xoáy tít khiến tôi không tài nào thấy được chỗ họ đang đứng. Tôi hi vọng Kate có thể lái chiếc xe mới mua, Volkswagen Beetle, về nhà bình an. Trong thâm tâm tôi biết cô ấy có thể vượt qua những khó khăn khi chúng tôi xa nhau. Ithaca là quê của cô ấy, cũng là nơi chúng tôi gặp gỡ và kết hôn. Nếu có chuyện gì xảy ra khi tôi vắng nhà, tôi tin gia đình cô ấy sống ở gần đó sẽ giúp đỡ cô ấy các con. Chuyến bay từ Ithaca đến sân bay thành phố Fayetteville, North Carolina yên ổn, và chuyến taxi đến căn cứ không quân Pope, liền kề Fort Bragg, cũng nhanh chóng và thoải mái. Nhân viên căn cứ Pope cho tôi vào và dẫn lên chiếc máy bay lớn của Southern Air Transport, động cơ của nó đang chạy và 63 binh lính Lực Lượng Đặc Biệt đang ngồi sẵn. CIA tham gia nhiêu hoạt động bí mật trên toàn cầu, các binh sĩ LLDB thường xuyên được đưa đến những địa điểm khác nhau, trên các chuyến bay và máy bay chuyên biệt. Đây đúng là một chuyến bay hạng sang, tiếp viên hàng không xinh đẹp, đồ uống miễn phí, thức ăn ngon, cứ như đang trong các bộ phim của John Wayne.* Chúng tôi đáp xuống căn cứ không quân Nha Trang, đậu trên đường láng nhựa và xuống máy bay trong cảnh tượng hối hả. Ngay lập tức thấy được, kể cả người vô tình nhìn qua, hỗ trợ hậu cần cho tất cả trại LLDB ở miền Nam VN là một công việc khắt khe và hao tổn. Chúng tôi nhìn thấy hội trường khi ngang qua lúc vào doanh trại, không như tưởng tượng nhưng cũng đủ để ngủ gục. ![Bộ chỉ huy lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ tại Nha Trang](http://i.imgur.com/pfkgwIb.jpg) Bộ chỉ huy lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ tại Nha Trang 7 giờ sáng hôm sau, một bữa ăn sáng vui vẻ để chào đón chúng tôi. 3 chỉ huy khác và tôi báo cáo với Phòng chỉ dẫn, và tham dự một loạt các buổi họp định hướng do Chỉ huy trưởng, Đại tá William McKean và người của ông ấy thực hiện. Chúng tôi được chỉ dẫn về công tác hậu cần, bao gồm hỗ trợ hàng không cấp tốc, các kênh liên lạc khi thiếu thốn đạn dược, hỗ trợ trên chiến trường qua radio tới Trung tâm hỗ trợ hậu cần. Các chuyên viên kỹ thuật hàng không, do Trung úy Peter Teasdale chỉ huy, thông qua mật mã của LLDB sẽ gửi đạn dược tới khu vực của các trại có yêu cầu, trong vòng vài tiếng đồng. *Trung úy Teasdale từng là trợ lý của tôi khi còn ở Fort Bragg, quen thuộc với hệ thống mật mã. Mật mã thường bao gồm các chi tiết như vũ khí, đạn, thuốc, phuong tiện liên lạc, các loại kích nổ, xăng dầu, thực phẩm, và các loại quân nhu khác cho hoạt động. Đóng gói các thứ vào một chỗ, gắn dù vào. Mỗi gói hàng có 3 mã số, mã Morse hoặc phiếu 1 lần đọc, làm đơn giản để nhanh chóng chuyển đúng hàng đến đúng nơi và đúng lúc.* Chỉ huy tình báo (S-2) là người tiếp theo lên phát biểu. Bắt đầu bằng việc tóm tắt các hoạt động chính của các trại LLDB tại miền Nam VN trong 24 giờ tới, ông ta cho chúng tôi thấy tổng thể về các hoạt động tình báo, một bảng tóm tắt về tình hình và tiên đoán các hoạt động sắp tới của đối phương. Ông ta khiến chúng tôi nhận thấy sâu sắc rằng phải cần có một mạng lưới tình báo tốt, bằng cách sử dụng các tài sản tại chỗ của từng trại LLDB. Ông ta cảnh báo chúng tôi về việc mua các tin tình báo, bởi theo các báo cáo, các điệp viên bán tin tức thường đưa tin vô dụng, lắm lúc nguy hiểm, thổi phòng về vị trí, sức mạnh, vũ khí của đối phương. S-3 tiếp nối. Cầm một cây gậy gỗ bịt kim loại ở đầu, ông ta chỉ cho chúng tôi thấy vị trí các trại LLDB ở miền Nam VN, trên tấm bản đồ kéo dài từ trần xuống tới sàn nhà. Chữ phân loại bảo vệ "MẬT" được đóng dấu ở trên và dưới cùng, to, đậm, màu đỏ. Ông ta chỉ ra 78 trại Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu (Civilian Irregular Defense Group - CIDG - LLDSCD), bắt đầu ở phía Bắc từ Khe Sanh, kéo dài xuống phía Nam. Nhiều trại nằm trên hoặc kế bên biên giới miền Nam VN với Lào và Campuchia, dài xuống phía Nam là một tiền đồn có từ thời Pháp ở Hà Tiên, ngăn cách với Campuchia bằng 1 vịnh nhỏ trong vịnh Thái Lan. Ông ta cho chúng tôi biết có 1.592 lính đặc nhiệm Mỹ tại VN, khoảng 28.200 lính thuộc lực lượng CIDG. Ngoài ra còn có khoảng 2.300 quân không chính quy trong đơn vị Mike Force. LL CIDG được huấn luyện, trang bị và chỉ huy bởi phân đội "A" biên phòng của LLDB Việt Nam (VNCH). Nhưng họ được trả lương, cấp chỗ ở, thức ăn, hỗ trợ và cố vấn bởi phân đội "A" của LLDB Hoa Kỳ. Hầu hết lính CIDG, ông ta nói, được tuyển mộ tại chỗ để bảo vệ chính nhà cửa của họ, chống lại quân Giải Phóng và quân chính quy của miền Bắc VN. Chương trình bao gồm: người dân tộc Khmer, tín đồ hai giáo phái Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài, dân tộc Hoa và các dân tộc ở Tây Nguyên. Ông ấy bỏ thời gian để cho chúng tôi thấy sự độc nhất vô nhị của đơn vị MIKE Force (lực lượng xung kích). Họ được trang bị như một lực lượng phản ứng cơ động, luôn sẵn sàng ứng cứu các trại LLDB khi có nguy biến. Tất cả các đơn vị MIKE Force đều được chỉ huy bởi người thuộc LLDB Hoa Kỳ. Thêm vào đó, tổng cộng hơn 28.800 lính bán quân sự thuộc Địa phương quân, Nghĩa quân hoạt động tại các khu vực, dựa trên sự cố vấn của nhân viên LLDB Mỹ. Ông ta nhấn mạnh điểm quan trọng của báo cáo: The Monthly Operational Summary (MOPSUM), Situation Reports (SITREPs) and Spot Intelligence Reports (SPOTREPs). Mỗi báo cáo đều được xem xét tại Tổng hành dinh của lực lượng để các nhân viên nắm được tình hình trên chiến trường. Báo cáo đúng lúc và chính xác là công việc cần thiết của công tác hậu cần tại các chiến trường Chiến tranh Không quy ước suốt dọc miền Nam VN. Xác định chính xác hoạt động của đối phương tại mỗi khu vực của từng đội sẽ giúp hậu chần thả hàng hỗ trợ xuống đúng chỗ nhất trong trường hợp cấp bách. Ông ta ngừng lại uống 1 ngụm nước trong cái ly thủy tinh đặt trên bục diễn giả, đề nghị chúng tôi giữ câu hỏi cho tới cuối buổi họp và sẽ trả lời mọi câu hỏi còn lại phía sau phòng họp. Sĩ quan Dân sự vụ S-5 (Civil Affairs Officer), chịu trách nhiệm về các hoạt động dân sự và chiến dịch tâm lý chiến, lên báo cáo tiếp. Ông ta làm chúng tôi thấy mạnh mẽ, thách thức, và cả kích động tinh thần khi đi ngang phòng làm việc của ông ấy, minh chứng cho tầm quan trọng khi chiến thắng được trái tim mà khối óc của con người. Ông ấy tạo ra sức ảnh hưởng bằng sự hăng hái và giúp đỡ chúng tôi hiểu rằng tại sao phải dành ít nhất một nửa công sức của cả đội cho các hoạt động dân sự và tâm lý chiến, nếu chúng tôi muốn thành công. *- "Trong nhiều năm", ông ta nói, "chính quyền Saigon đã phớt lờ nhu cầu và nguyện vọng của người dân tộc Tây Nguyên, tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài và dân tộc Khmer. Hậu quả là, không có 1 chút lòng trung thành nào trong các nhóm này với chính quyền Saigon".* *- "Tất cả bọn họ", ông ta giải thích, "là cư dân chính ở vùng nông thôn, nhưng thiếu lòng yêu nước, dễ bị tuyên truyền Chủ nghĩa Cộng Sản bởi quân Giải Phóng".* Một trong những thử thách chính của chúng tôi là giảm thiểu và dần dần bỏ qua một bên sự thờ ơ với chính quyền, một số trường hợp, có hành động quân sự với các nhóm này. Ông ta cũng giải thích tại sao các Chương trình Dân sự sẽ được phát triển bởi khi phân đội A của chúng tôi hợp tác với các đồng sự người Việt trong LLDB, xã trưởng, quan chức quận ở các địa phương. Đầu tiên họ xác định nhu cầu thực tế của người dân, đánh giá năng lực của chính quyền địa phương, và LLDB Hoa Kỳ sẽ đáp ứng những nhu cầu được cho là cấp thiết nhất. Chương trình bao gồm xây dựng cầu, trường học, bến tàu, làm đường xá và tuần tra y tế. Dễ thấy rằng quân y LLDB là những ngưới có giá trị nhất trong chiến dịch của phân đội A, bởi họ hằng ngày đều đi ra khỏi thị trấn, tới các ấp nhỏ nhất, chữa trị bệnh, vết thương cho người dân địa phương, đặc biệt là trẻ em và người già. Tất cả những việc mà đội làm cho người dân là để phát triển và nuôi dưỡng lòng trung thành, để xem họ như những người bạn của chúng tôi trong cuộc đấu tranh chống lại sự nổi dậy của chủ nghĩa CS. *- "Có lòng tin, thì lòng trung thành đến theo", ông ta nhấn mạnh, "một trách nhiệm quan trong cho mỗi thành viên phân đội A, đó là, cố gắng chuyển hướng lòng trung thành đó vào chính quyền Saigon. Không dễ chút nào", ông ta kết luận, "nhưng các anh phải ưu hiên điều đó lên hàng đầu. Tất cả chúng ta rồi sẽ trở về nhà, và thật tệ, nếu những việc chúng ta đã làm biến thành hư vô".* Kế đó ông ta giới thiệu sĩ quan phụ tá và bước xuống.
 
0
trả lời

Chương 1: Mệnh Lệnh Tối Mật - Secret Orders

(đoạn sau)

Nhân vật mà mỗi người chúng tôi chờ đợi nãy giờ để hỏi mình sẽ đi đâu, giờ đang đứng trước mặt, mỉm cười và cầm 1 sấp hồ sơ lý lịch trên tay. Mỗi Đại úy LLDB đều xứng đáng được quyền hi vọng chỉ huy một phân đội A, tôi cũng không ngoại lệ. Ngay lúc ấy tôi nghĩ số phận của mình đã an bài, ở lại Nha Trang và làm trong Trung tâm hỗ trợ hậu cần, bởi vì tôi đã có kinh nghiệm phục vụ trong hậu cần. Ở tuổi 32, tôi là Đại úy già nhất trong nhóm, khá ngạc nhiên khi ông ta gọi lên phía trước, trao cho tôi một xấp giấy chỉ thị và báo rằng tôi sẽ đi Cần Thơ, Vùng 4 chiến thuật. Ông ta bảo tôi trình báo với Trung tá Tuttle, chỉ huy trưởng của bộ chỉ huy "C". Ông ta chỉ tôi đi về phía Trung tâm điều hành bay để hỏi chuyến bay sớm nhất tới Cần Thơ.

Khi đi ra khỏi phòng họp, tôi nghe ông ta nói với những chỉ huy còn lại, họ có thể chỉ huy 1 phân đội A nếu họ có kinh nghiệm chiến đấu thực tế. Tôi từng là Trung úy Công binh chiến đấu, tham gia tới những ngày cuối của cuộc chiến Triều Tiên. Tôi nhận thức được rằng giắc mơ của minh đã thành hiện thực, trở thành chỉ huy 1 phân đội A.

Phân cấp của LLĐB Mỹ: bộ chỉ huy C (quân khu) > ban chỉ huy B (tỉnh) > phân đội A (quận)

Chuyến bay tới Cần Thơ trên chiếc máy Caribou của Không quân chỉ cất cánh ít phút sau buổi ăn trưa, ngày Nô-el. 4 người chúng tôi ngồi ngay phía sau buồng lái, hướng mặt về phía đống hàng hóa chở đi Saigon và Cần Thơ. 3 người đồng đồi kia đều là Hạ sĩ LLDB, đang trên đường trở về Mỹ, nôn nóng kể cho tôi nghe những gì họ đã trãi qua. Tôi được thưởng thức những trận đánh, chiến thắng và bi kịch mà từng người bọn họ vượt qua. Họ hãnh diện cho tôi xem những bức ảnh mà họ đã chiến đấu bên cạnh các đồng sự không chính quy, nổi bật với chiến thắng, nhưng cũng đổ máu trong những lần chiến bại. Một Hạ sĩ nói với giọng mỉa mai: "Việt Cộng - chiến binh bóng ma", những người bất ngờ xuất hiện, như từ trong không khí đi ra, ở những nơi và những lúc ít ngờ tới nhất, rồi sau đó biến mất vào trong những khu rừng. Anh ta quen thuộc với khu vực, nơi anh ta chờ đợi để phục kích cuộc đánh trả. Anh ta nhanh chóng nhận ra rằng đội của mình đã sẵn sàng đối đầu với đối phương, khóa huấn luyện về chiến tranh du kích ở Smoke Bomb Hill đã được đền đáp. Anh ta nhìn tôi, cười và nói:

- "Đại Úy", chúng tôi đã xong việc và cho những tên Cộng đó biết mùi.

Đại Úy, phát âm nghe như "Die We" (chúng ta tiêu đời). Tôi nghĩ nên làm quen với nó. Biểu cảm bằng tiếng Việt, giờ đã thành bản năng của những người này, họ học trong lúc làm việc và chiến đấu cùng người dân địa phương. Tôi lắng nghe kỹ lưỡng, ráng ghi nhớ cho hết. Tôi cố bước đi đúng hướng trên hành trình mà tôi sẽ đi.

Cả thảy bọn họ đều bày tỏ tiếc nối rằng đa số lính Mỹ đến VN đều là lính thông thường, thiếu huấn luyện. Do đó họ sẽ ít có cơ hội chống chọi lại đối thủ biết đánh du kích, có trang bị khí giới và kinh nghiệm chiến đấu. Cuộc trò chuyện ngừng lại khi chúng tôi đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Bọn họ háo hức đi nhanh xuống đất. Từ Saigon họ sẽ lên chuyến bay khác, bước cuối trong chuyến hành trình trở lại quê nhà Hoa Kỳ. Chúng tôi đáp ở cổng hàng không, các anh Trung sĩ xuống máy bay, xe kéo đến bốc dỡ hàng hóa.

Không đầy 20 phút sau, chúng tôi lại cất cánh hướng về phía Nam, phía trên những cánh đồng lúa vùng đồng bằng, hướng về Cần Thơ. Lúc xế chiều, chúng tôi hạ xuống và lượn 1 vòng băng ngang con sông lớn Mekong (sông Hậu) trước khi đáp xuống bãi hạ cánh của bộ chỉ huy C. Chúng tôi đến điểm dừng. Ngay khi hàng hóa hậu cần được dỡ xuống, không khí nóng và ẩm ướt tràn vào. Tôi lấy hành lý và đi xuống con đường láng nhựa, được chào đón bởi Thượng sĩ của bộ chỉ huy C. Một người lớn con, lực lưỡng, cánh tay rắn chắc. Anh ta chộp lấy túi hành lý của tôi nhẹ nhạng, như thế nó chỉ chứa có lông vũ bên trong, sãi bước qua cổng chính, dẫn tôi đi ngang phòng ăn và đi vào trại lính. Với cánh tay còn lại, anh ta chỉ về hướng căn nhà gỗ, hai tầng, lợp tôn.

- Đó là Tổng hành dinh, Đại úy. Văn phòng của Trung tá Tuttle ở trên lầu, phòng bản đồ và phòng họp nằm ngoài cửa phòng ông ấy. "Ông già" sẽ gặp anh đúng vào lúc 8:00.
Anh ta nói lớn.

Sau khi dẫn tôi qua khỏi cánh cửa ở hướng Bắc, phía cuối doanh trại, anh ta cho tôi coi 1 cái phòng nhỏ rồi bỏ hành lý của tôi vào đó. Phòng không có cửa, chỉ có miếng rèm bằng tre. Đi xuống phía dưới hành lang, anh ta chỉ tôi nhà tắm và nhà vệ sinh. Anh ta cho tôi biết là nhà ăn phục vụ lúc 7 giờ, chỉ có vài món ngon, gợi ý tôi nên chen lấn nếu cần. Anh ta bỏ đi, ngập ngừng 1 lúc, quay mặt lại hỏi tôi, có phải tôi là "Dan Nguy Hiểm" không? Vì anh ta nghe được từ Thượng sĩ cấp trên. Tôi không trả lời, chỉ cười trừ. Anh ta gãi đầu, cười toe toét, bỏ đi nhẹ nhàng, lẩm bẩm gì đó.

Căn cứ không quân Cần Thơ
Căn cứ không quân Cần Thơ

Tiếng súng và pháo nổ ở xa xa có thể nghe rõ. Nhưng bầu không khí xung quanh doanh trại cứ như đang mùa lễ hội. Tôi nhớ rồi, hôm đó đúng ngay đêm Nô-el (Giáng sinh).

Tôi gấp gáp đi tới nhà ăn sao cho đúng giờ, và sau đó được thưởng thức món sandwich thịt bò nướng, khoai tây nghiền, đậu và cà phê đen. Khẩu vị rất hợp, làm tôi nhớ tới các món ăn ở nhà hàng Howard Johnson. Ở Mỹ, hễ mỗi lần đi đâu về nhà, tôi với Kate đều ráng ghé vào nhà hàng đó. Tôi ghiền món sandwich thịt bò hoặc hà nuớng nóng hổi của họ, hiếm khi gọi món nào khác trừ điểm tâm.

Giáng sinh được trang trí với một cây thông cao 2m làm tôi thấy nhớ quê nhà. Công việc ở nhà mf tôi thích là đốn cây. Nhà bếp và phòng ăn ở đây lớn gấp đôi các quán bar hoặc phòng game của LLDB ở Mỹ.

Tôi quyết định làm 1 giấc thật ngon trước khi gặp Trung tá Tuttle sáng mai. Uống xong 3 ly cà phê, tôi trở về phòng, lên giường, tấn mùng vô nếp chiếc chiếu mỏng và ngáy ngủ.

Tôi thức lúc 7:00 sáng ngày Nô-el, mình mẩy ướt sũng mồ hôi, thấm ướt cả tấm vải lót và cái gối bông. Trời nóng nực và độ ẩm cao làm cơ thể tôi vật vã.

Đầu óc tôi giờ đã quen với văn hóa và múi giờ sau vài ngày từ Mỹ đến đây. Lúc này cơ thể tôi đang cố bắt kịp trí óc. Tôi được lệnh đến đây. Tôi đến nơi cần hoạt động và tôi nghe những người đến trước kể rằng, người VN cảm kích khi chúng tôi tình nguyện đến giúp họ. Linh động, có khả năng thích nghi với hoàn cảnh bằng đầu óc cởi mởi, tinh thần quyết tâm là một phần của một chiến sĩ đặc công (Green Baret) giỏi.

Cái bóng đèn tròn treo lủng lẳng trên mái nhà, gần chỗ tôi nằm bật sáng làm tôi tỉnh giấc. Một giọng nói cộc lốc của viên Trung sĩ gọi tôi đi gặp Trung tá Tuttle.

- Ông ấy muốn cùng ăn sáng với anh trong 30 phút tới, Đại úy.

Anh ta hét lớn và bỏ đi, không thèm đợi tôi nói gì.

- Chúc mừng Giáng sinh, Trung sĩ.

Tôi nói vọng theo khi anh ta đã ra khỏi dãy phòng và trở lại bàn làm việc. Chắc anh ta không có hứng thú với lễ Giáng sinh.

Trung tá Tuttle chào tôi khi tôi mới bước vào phòng. Tôi chào lại và nhìn xung quanh. Không thấy bóng ai khác ngoài người đầu bếp. Tôi thấy hơi lạ cho đến khi thấy dòng chữ dán trên bảng: "Buổi ăn sáng Giáng sinh: 9:00". Tôi hiểu ra trung tá mốn nó chuyện riêng, mặt đối mặt với tôi. Chúng tôi bắt tay. Tôi ngồi xuống, một cô gái phục vụ trẻ, người Việt, khá xinh, mặc bộ váy màu trắng, đeo tạp dề, đặt một tách cà phê nóng lên bàn và bày món ăn: thịt heo, 2 quả trứng, bánh pancakes và bánh mì. Tôi đói. Trung tá nhường tôi và làm 1 ngụm cà phê. Mùi thịt heo nướng tỏa khắp phòng.

Tôi nghiền ngẫm 1 lúc về người đàn ông mạnh mẽ, được mọi người kể lại rằng ông ta là một chỉ huy giỏi trên chiến trường. Ông ta gầy, ngồi thẳng lương, có vẻ nghiêm khắc, đầu thì hói như trái bóng bàn. Thấp hơn tôi chỡ 1 inch, gầy hơn, ánh mắt sắc xảo và thể hiện mạnh mẽ. Không chút nghi ngờ việc ông ta e ngại ở đây.

Ông ta cho tôi thấy con người đó ngay khi cô gái phục vụ đi chỗ khác. Hình như tôi cũng có chút danh tiếng. Ông ta nói mình đã phục vụ trong LLDB từ năm 1953, và ngạc nhiên là chúng tôi chưa từng gặp nhau. Ông ta cho tôi biết là một người bạn cũ của ông ta, Đại tá Patten, cũng là chỉ huy của tôi, đã kể về hoạt động của tôi ở Trung đoàn số 6 ở Fort Bragg.

- Ông ấy nói rằng anh cứng rắn, làm tới cùng để xong việc, bất kể trở ngại nào.

Vừa nói xong, ông ta xích sát vô bàn, nói hạ giọng lại, cười lớn và nói rằng Đại tá Patten đã nói thẳng với ông ta rằng tôi rất ranh mãnh khi cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.

Lúc đó tôi hiểu rằng, ông ta đã thảo luận với Đại tá Patten về phướng pháp làm việc của tôi.Trong hồ sơ đánh giá về tôi, lúc đó là Sĩ quan trưởng bộ phận Hậu cần, Đại tá Patten viết chính các những gì đã nói nãy giờ. Ông còn ghi thêm câu: "rất thích hợp tham gia Chiến tranh không quy ước".

Điềm nhiên nhìn thẳng vào mắt tôi, ông ta nói đã đọc hết hồ sơ và hiểu về tôi, ưu khuyết điểm, công việc phù hợp có thể giao. Ông ta cần một người như tôi để chỉ huy phân đội A-424 ở Trại Dân Nam, phía Tây Bắc Cần Thơ, ở quận An Phú.

- Tôi sẽ cho anh vào vị trí ngay sau khi chúng ta họp xong sau buổi ăn sáng.

Tiếng lốc cốc của muỗng nĩa trên bào báo hiệu cuộc nói chuyện kết thúc.

Chúng tôi ăn trong êm lặng, tôi nhớ lại những ngày phụ vụ dưới trướng Đại tá Patten ở Trung đoàn 6. Rất khó khăn để phục vụ hậu cần cho các Đội huấn luyện di động khi họ được triển khai ở nước ngoài, nhiệm vụ bí mật và khó xác định vị trí, nhận dạng. Sử dụng hệ thống Bưu chính quốc tế, Đại sứ quán hoặc giao liên của CIA để chuyển hàng quan trọng như đạn dược và chất nổ, chúng tôi phải ghi lên ngoài hộp những thứ liên quan, vô hại hoặc có hại, như đồ hộp, quần áo may bị lỗi,... để được gửi đi. Cũng có những lần giữa năm 1964, tôi thấy sôi nổi và bị thách thức khi chỉ huy một nhóm 6 người LLDB trong các nhiệm vụ "Tối mật" diễn ra bất ngờ.

Tôi trở lại với hiện tại khi Trung tá Tuttle ăn xong, lau miệng và hỏi:

- Đang nghĩ về quê nhà hả?

- Không thưa ngài, chỉ là một nơi khác thôi.
Tôi trả lời.

Chúng tôi tráng miệng bằng cà phê rồi ông ta dẫn tôi ra khỏi phòng ăn, đến văn phòng của ông ta. Khi chúng tôi vào văn phòng, ông ta nói với viên Trung sĩ trực ban rằng ông ta muốn hoàn toàn được riêng tư, không được làm phiền. Viên Trung sĩ đóng tập hồ sơ, bước ra ngoài và khép cửa lại. Một tấm bản đồ nhiều màu, ghi vị trí phe ta và đối phương, một cây gậy đầu bịt kim loại, mấy tấm ảnh chụp tử trên không, ông Đại tá tóm tắt tình hình chiến thuật trong và xung quanh quận An Phú.

Bản đồ quận An Phú tỉnh Châu Đốc 1960-1975
Bản đồ quận An Phú tỉnh Châu Đốc 1960-1975

Bắt đầu với FOB Phú Hiệp (Forward Operations Base - Căn cứ hành quân tiền phương) cách 7km phía Đông Bắc trại Dân Nam và cách biên giới Campuchia 2km xuống phía Nam. Ông ta chỉ ra một khu vực công sự rộng lớn của đối phương, chỉ cách căn cứ Phú Hiệp 3 km trong lãnh thổ Campuchia. Bệnh viện cỡ 50 giường, đạn dược, thùng xăng dầu, nhà kho, trại lính đủ chứa một tiểu đoàn hơn 400 quân. Căn cứ bí mật Bưng Ven (mật cứ) được cung cấp vật liệu và hàng hóa chiến tranh từ miền Nam VN qua sông Mekong bằng tàu bè có đăng ký Quốc tế.

Ngày nay đồn Phú Hiệp nằm ở gần khu dân cư ấp Phú Lợi xã Phú Hữu (xem bản đồ quận An Phú, tỉnh Châu Đốc).

Ở Phnom Penh, hàng hóa được đưa lên các tàu bè nhỏ hơn và trở ngược lại phía Nam tới Prek Chrey, nơi họ có thể đi theo sông Bắc Nam và chuyển hàng hóa vào khu mật cứ. Ông ta giải thích:

- Trong vòng 6 tháng qua, quân Giải phóng đã giành được một khu vực chạy dọc 1,5km, ngang 3km ở giữa đồn Phú Hiệp và biên giới. Một Tiểu đoàn bí mật của quân Giải phóng, khoảng 400 người, đóng tại đó để bảo vệ nguồn nước và đường vào căn cứ. Một Trung đội phòng không của quân miền Bắc VN cũng vừa gia nhập vào Tiểu đoàn này để chống lại máy bay trinh sát.
- Sao lại để cho đối phương chiếm khu vực đó? Tôi hỏi.

Ông ta giải thích rằng Thiếu tá Phồi đã khôn ngoan không tấn công vào đó, tránh tổn thất lực lượng trước bẫy mìn, súng bắn tỉa chừng nào mà ông ấy (TT Phồi) không được phép truy đuổi đối phương bên trong lãnh thổ Campuchia, không thì ông ấy sẽ tự hại mình.

- Đó là nơi mà anh sẽ đến, Dan Nguy hiểm. Tôi muốn anh chỉ huy trại Dân Nam và Phân đội biên phòng A-424, tự do hành động. Tôi muốn anh mang cuộc chiến vào bên trong lãnh thổ Campuchia. Anh sẽ là người đầu tiên làm điều đó.

Ông ta bắt đầu giải thích rằng CIA đang dàn xếp với Thủ tướng Kỳ (Nguyễn Cao Kỳ).

- Những điều mà chúng ta nói ở đây, không bao giờ được phép ra khỏi căn phòng này.

Ông ta cảnh báo. Tôi chỉ cung cấp vài thông tin như thế tới phân đội của tôi (phân đội A biên phòng) khi thi hành nhiệm vụ. Đây là một chiến dịch riêng rẽ và Ban chỉ huy "B" không được biết bất cứ chi tiết nào. Tôi có thể tùy ý xử lý chuyện đó khi nói tiếp xúc với Chỉ huy trưởng của Ban chỉ huy B. Giữ khoảng cách và lẩn tránh nếu cần. Ông ta nhấn mạnh:

- Nếu anh đồng ý và một khi anh bước ra khỏi phòng, coi như chúng ta chưa từng gặp nhau. Rõ chứ?

- Vâng thưa ngài, còn hỗ trợ hậu cần chiến đấu thì thế nào?

Tôi hỏi. Ông ta cho tôi biết rằng tôi phải tự mình lo liệu.

- Khi anh vượt qua biên giới, anh mất hết hỗ trợ. Không có trực thăng, pháo kích, quân tiếp viện. Kể cả hỗ trợ y tế. Không có gì hết.

Ông ta mô tả về Thiếu ta Lê Văn Phồi, chỉ huy trưởng LLDB quân đội VNCH tại An Phú, một người kiên nghị và là một tín đồ Hòa Hảo (HH) lỗi lạc.

Tôi đã đọc qua và nghe những người lính LLDB khác kể về giáo phái Phật giáo này. Họ chiến đấu gan dạ và tự trọng.

Bằng nhiều giọng điệu khác nhau, Trung tá Tuttle kể cho tôi rằng: theo yêu cầu của Thiếu tá Phồi thì Thiếu tá Chuẩn (Nguyễn Thành Chuẩn), Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy "C" LLDB, đã gặp ông ta và đề nghị chuyển công tác vị Đại úy người Mỹ, chỉ huy phân đội A ở An Phú. Tuttle thảo luận với Thiếu tá Arnn và luân chuyển người chỉ huy ra khỏi An Phú ngay ngày hôm sau. Ông ta bộc bạch:

- Phân đội A-424 đã không có chỉ huy từ lúc đó.

Ông ta cho tôi coi 1 bản báo cáo tháng rồi của phân đội A-424. Tôi thấy lực lượng Dân sự chiến đấu (LLDSCD) Hòa Hảo có 5 Đại đội (132 người/đội). Dưới sự chỉ huy của Quận trưởng là 1 Trung đội pháo kích 155mm (15 ly) của quân lực VNCH. Hai Đại đội Địa phương quân đóng gần trại chịu sự chỉ huy của Đại úy Tươi, kiêm chức Quận trưởng, quản lý và bảo vệ hơn 64.000 người dân An Phú, đa số theo đạo HH.

30km biên giới và cửa ngõ sông Hậu cần được bảo vệ. Nhiệm vụ Tối mật mới này là một bài kiểm tra thực tế cho tất cả chúng tôi. Cách chúng tôi làm, mức độ thành công của chúng tôi trong việc xoay chuyển dòng xoáy chiến tranh tại khu vực nhỏ bé của mình, sẽ tạo một sự chuyển biến cho toàn cõi Việt Nam.

Trung tá Tuttle giải thích rằng Thiếu tá Phồi còn là cố vấn quân sự của Ban trị sự trung ương HH, đã thúc ép Chủ tịch ban trị sự Lương Trọng Tường đến gặp Trung tướng Đặng Văn Quang, chỉ huy Vùng 4 chiến thuật, để đảm bảo ông ấy có được quyền tấn công sang biên giới. Ông Tường đã gặp tướng Quang và yêu cầu đã được gửi đến Bộ trưởng Quốc phòng, người sau đó đã thỏa hiệp với Thủ tướng Kỳ và CIA. Kết quả là một nhiệm vụ độc lập, tối mật được triển khai tại An Phú. Đây là một phép thử. Thiếu tá Phồi còn đạt được yêu cầu cho phép một Đội trưởng người Mỹ làm Chỉ huy trưởng của trại, giúp họ có quyền tấn công vào nước Campuchia trung lập. An Phú sẽ là quận biên giới đầu tiên chối bỏ các An toàn khu của quân Giải phóng.

- Tại sao phải giữ kín chuyện này? Tôi hỏi.

- "Chính trị", ông ta nói, "các quan chức ở Nhà trắng đã xác nhận là không có căn cứ nào của đối phương ở Campuchia".

Không cần nghi ngờ, chúng ta đều biết đó là sự dối trá. Thái tử Sihanouk phá vỡ quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ ngày 3-5-1965, thế nhưng bộ ngoại giao Hoa Kỳ không nôn nóng tạo ra bất cứ lý do nào để CHND Trung Hoa can thiệp vào cuộc xung đột.

- "Thật lố lăng", tôi nói. Bọn họ đã can thiệp ngay từ những ngày đầu, cung cấp vũ khí cho quân Giải phóng và quân chính quy miền Bắc, số lượng vũ khí đó còn nhiều hơn cả số vũ khí mà chúng ta cung cấp cho phía VNCH. Ông Đại tá không cãi lại gì cả, chỉ nhìn thẳng vào mắt tôi và hỏi tôi có quyết định chưa.
- Tôi muốn An Phú, thưa trung tá.

Tôi biết mình có thể tăng cường quan hệ chỉ huy với Thiếu tá Phồi. Người của ông ấy cần ông ấy lãnh đạo, người mà họ có thể tin cậy qua nhiều trận chiến. Tôi không muốn phá vỡ điều đó.

Tôi hỏi nếu các hoạt động chiến đấu nằm trong lãnh thổ CPC, kể cả nổ súng gián tiếp, tôi có phải ghi chú hoặc báo cáo lại không?

- "Bất cứ thứ gì liên quan tới nhiệm vụ bí mật này đều không được phép báo cáo hoặc ghi lại. Không Situation Reports (SITREPs) and Spot Intelligence Reports (SPOTREPs) hay bất cứ thứ gì thể hiện sự vi phạm biên giới và không phận quốc tế. Phải làm như không có gì xảy ra cả". Ông ta nhấn mạnh. "Anh còn muốn An Phú nữa không?"

Tôi trả lời có, nhưng với một điều kiện. Giọng nói nghiêm túc cho thấy ông ta không thích đòi hỏi của cấp dưới.

- Điều kiện gì, Đại úy?

- Tôi muốn tự tay chọn người cho đội của mình, không thắc mắc.

- Anh có nó.

Tôi có thể giữ lại bất kỳ ai hoặc toàn bộ phân đội có sẵn ở An Phú. Ông Đại tá sẽ thay thế bất kỳ ai tôi bỏ ra.

- Đủ công bằng chưa?

Chúng tôi bắt tay thỏa thuận.

- Hãy sẵn sàng bắt đầu vào sáng mai, Nguy hiểm, và chúc may mắn.

Sau khi cân nhắc mọi thứ, trung tá Tuttle bàn về chiến dịch độc lập, mối nguy kề cập, hoàn toàn không được chính quyền Mỹ hậu thuẫn, tôi quyết định thực hiện một kế hoạch bí mật để đảm bảo bảo vệ được sự thật về các mệnh lênh chỉ huy của mình, không bận tâm mình sống hay chết. Tôi phải tài liệu hóa các mệnh lệnh đó và gửi cho một người bạn mà tôi tin tưởng ở Mỹ để cất giữ. Nếu có chuyện xảy ra với tôi, người bạn đó sẽ nhờ một luật sư mở đống tài liệu này và cung cấp sự thật cho gia đình các đồng đội của tôi, Quốc hội và truyền thông. May thay, tôi tìm lại được đống tài liệu đó và sử dụng trong bản thảo của quyển sách này. Tôi gửi các bản copy cho các bạn đồng sự cũ để họ góp ý và bổ sung.

Bản đồ các căn cứ cách mạng ở An Giang năm 1957-1975
Bản đồ các căn cứ cách mạng ở An Giang năm 1957-1975

Ngày Giáng sinh, tôi ăn no nê trong buổi ăn tối với gà quay truyền thống. Nhớ lại những buổi tối Giáng sinh trước, Kate làm "hư" tôi với các món ăn, nhất là món bánh hạnh nhận khoái khẩu. Ăn tối xong, tôi tắm nhanh, cầm bút viết thư cho cô ấy, nơi tôi đang ở, tôi học được những gì về tình hình trên vùng đất An Phú và dũng khí của binh lính HH.

- "Đừng lo lắng em nhé!", tôi viết, "Vì anh ở chung với những người tốt". Tôi không ghi bất cứ điều gì làm cô ấy lo lắng mà chỉ bảy tỏ nỗi nhớ. Tôi vào mùng, nhắm mắt lại, dù suốt đêm trời nóng, tôi vẫn ngủ ngon.

Tôi đã ở nơi mà mình muốn.

* * * * * * * * * * * * * *

##Chương 1: Mệnh Lệnh Tối Mật - Secret Orders ####(đoạn sau) Nhân vật mà mỗi người chúng tôi chờ đợi nãy giờ để hỏi mình sẽ đi đâu, giờ đang đứng trước mặt, mỉm cười và cầm 1 sấp hồ sơ lý lịch trên tay. Mỗi Đại úy LLDB đều xứng đáng được quyền hi vọng chỉ huy một phân đội A, tôi cũng không ngoại lệ. Ngay lúc ấy tôi nghĩ số phận của mình đã an bài, ở lại Nha Trang và làm trong Trung tâm hỗ trợ hậu cần, bởi vì tôi đã có kinh nghiệm phục vụ trong hậu cần. Ở tuổi 32, tôi là Đại úy già nhất trong nhóm, khá ngạc nhiên khi ông ta gọi lên phía trước, trao cho tôi một xấp giấy chỉ thị và báo rằng tôi sẽ đi Cần Thơ, Vùng 4 chiến thuật. Ông ta bảo tôi trình báo với Trung tá Tuttle, chỉ huy trưởng của bộ chỉ huy "C". Ông ta chỉ tôi đi về phía Trung tâm điều hành bay để hỏi chuyến bay sớm nhất tới Cần Thơ. Khi đi ra khỏi phòng họp, tôi nghe ông ta nói với những chỉ huy còn lại, họ có thể chỉ huy 1 phân đội A nếu họ có kinh nghiệm chiến đấu thực tế. Tôi từng là Trung úy Công binh chiến đấu, tham gia tới những ngày cuối của cuộc chiến Triều Tiên. Tôi nhận thức được rằng giắc mơ của minh đã thành hiện thực, trở thành chỉ huy 1 phân đội A. > Phân cấp của LLĐB Mỹ: bộ chỉ huy C (quân khu) > ban chỉ huy B (tỉnh) > phân đội A (quận) Chuyến bay tới Cần Thơ trên chiếc máy Caribou của Không quân chỉ cất cánh ít phút sau buổi ăn trưa, ngày Nô-el. 4 người chúng tôi ngồi ngay phía sau buồng lái, hướng mặt về phía đống hàng hóa chở đi Saigon và Cần Thơ. 3 người đồng đồi kia đều là Hạ sĩ LLDB, đang trên đường trở về Mỹ, nôn nóng kể cho tôi nghe những gì họ đã trãi qua. Tôi được thưởng thức những trận đánh, chiến thắng và bi kịch mà từng người bọn họ vượt qua. Họ hãnh diện cho tôi xem những bức ảnh mà họ đã chiến đấu bên cạnh các đồng sự không chính quy, nổi bật với chiến thắng, nhưng cũng đổ máu trong những lần chiến bại. Một Hạ sĩ nói với giọng mỉa mai: "Việt Cộng - chiến binh bóng ma", những người bất ngờ xuất hiện, như từ trong không khí đi ra, ở những nơi và những lúc ít ngờ tới nhất, rồi sau đó biến mất vào trong những khu rừng. Anh ta quen thuộc với khu vực, nơi anh ta chờ đợi để phục kích cuộc đánh trả. Anh ta nhanh chóng nhận ra rằng đội của mình đã sẵn sàng đối đầu với đối phương, khóa huấn luyện về chiến tranh du kích ở Smoke Bomb Hill đã được đền đáp. Anh ta nhìn tôi, cười và nói: *- "Đại Úy", chúng tôi đã xong việc và cho những tên Cộng đó biết mùi.* Đại Úy, phát âm nghe như "Die We" (chúng ta tiêu đời). Tôi nghĩ nên làm quen với nó. Biểu cảm bằng tiếng Việt, giờ đã thành bản năng của những người này, họ học trong lúc làm việc và chiến đấu cùng người dân địa phương. Tôi lắng nghe kỹ lưỡng, ráng ghi nhớ cho hết. Tôi cố bước đi đúng hướng trên hành trình mà tôi sẽ đi. Cả thảy bọn họ đều bày tỏ tiếc nối rằng đa số lính Mỹ đến VN đều là lính thông thường, thiếu huấn luyện. Do đó họ sẽ ít có cơ hội chống chọi lại đối thủ biết đánh du kích, có trang bị khí giới và kinh nghiệm chiến đấu. Cuộc trò chuyện ngừng lại khi chúng tôi đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Bọn họ háo hức đi nhanh xuống đất. Từ Saigon họ sẽ lên chuyến bay khác, bước cuối trong chuyến hành trình trở lại quê nhà Hoa Kỳ. Chúng tôi đáp ở cổng hàng không, các anh Trung sĩ xuống máy bay, xe kéo đến bốc dỡ hàng hóa. Không đầy 20 phút sau, chúng tôi lại cất cánh hướng về phía Nam, phía trên những cánh đồng lúa vùng đồng bằng, hướng về Cần Thơ. Lúc xế chiều, chúng tôi hạ xuống và lượn 1 vòng băng ngang con sông lớn Mekong (sông Hậu) trước khi đáp xuống bãi hạ cánh của bộ chỉ huy C. Chúng tôi đến điểm dừng. Ngay khi hàng hóa hậu cần được dỡ xuống, không khí nóng và ẩm ướt tràn vào. Tôi lấy hành lý và đi xuống con đường láng nhựa, được chào đón bởi Thượng sĩ của bộ chỉ huy C. Một người lớn con, lực lưỡng, cánh tay rắn chắc. Anh ta chộp lấy túi hành lý của tôi nhẹ nhạng, như thế nó chỉ chứa có lông vũ bên trong, sãi bước qua cổng chính, dẫn tôi đi ngang phòng ăn và đi vào trại lính. Với cánh tay còn lại, anh ta chỉ về hướng căn nhà gỗ, hai tầng, lợp tôn. *- Đó là Tổng hành dinh, Đại úy. Văn phòng của Trung tá Tuttle ở trên lầu, phòng bản đồ và phòng họp nằm ngoài cửa phòng ông ấy. "Ông già" sẽ gặp anh đúng vào lúc 8:00.* Anh ta nói lớn. Sau khi dẫn tôi qua khỏi cánh cửa ở hướng Bắc, phía cuối doanh trại, anh ta cho tôi coi 1 cái phòng nhỏ rồi bỏ hành lý của tôi vào đó. Phòng không có cửa, chỉ có miếng rèm bằng tre. Đi xuống phía dưới hành lang, anh ta chỉ tôi nhà tắm và nhà vệ sinh. Anh ta cho tôi biết là nhà ăn phục vụ lúc 7 giờ, chỉ có vài món ngon, gợi ý tôi nên chen lấn nếu cần. Anh ta bỏ đi, ngập ngừng 1 lúc, quay mặt lại hỏi tôi, có phải tôi là "Dan Nguy Hiểm" không? Vì anh ta nghe được từ Thượng sĩ cấp trên. Tôi không trả lời, chỉ cười trừ. Anh ta gãi đầu, cười toe toét, bỏ đi nhẹ nhàng, lẩm bẩm gì đó. ![Căn cứ không quân Cần Thơ](http://i.imgur.com/nsUmJRl.jpg) Căn cứ không quân Cần Thơ Tiếng súng và pháo nổ ở xa xa có thể nghe rõ. Nhưng bầu không khí xung quanh doanh trại cứ như đang mùa lễ hội. Tôi nhớ rồi, hôm đó đúng ngay đêm Nô-el (Giáng sinh). Tôi gấp gáp đi tới nhà ăn sao cho đúng giờ, và sau đó được thưởng thức món sandwich thịt bò nướng, khoai tây nghiền, đậu và cà phê đen. Khẩu vị rất hợp, làm tôi nhớ tới các món ăn ở nhà hàng Howard Johnson. Ở Mỹ, hễ mỗi lần đi đâu về nhà, tôi với Kate đều ráng ghé vào nhà hàng đó. Tôi ghiền món sandwich thịt bò hoặc hà nuớng nóng hổi của họ, hiếm khi gọi món nào khác trừ điểm tâm. Giáng sinh được trang trí với một cây thông cao 2m làm tôi thấy nhớ quê nhà. Công việc ở nhà mf tôi thích là đốn cây. Nhà bếp và phòng ăn ở đây lớn gấp đôi các quán bar hoặc phòng game của LLDB ở Mỹ. Tôi quyết định làm 1 giấc thật ngon trước khi gặp Trung tá Tuttle sáng mai. Uống xong 3 ly cà phê, tôi trở về phòng, lên giường, tấn mùng vô nếp chiếc chiếu mỏng và ngáy ngủ. Tôi thức lúc 7:00 sáng ngày Nô-el, mình mẩy ướt sũng mồ hôi, thấm ướt cả tấm vải lót và cái gối bông. Trời nóng nực và độ ẩm cao làm cơ thể tôi vật vã. *Đầu óc tôi giờ đã quen với văn hóa và múi giờ sau vài ngày từ Mỹ đến đây. Lúc này cơ thể tôi đang cố bắt kịp trí óc. Tôi được lệnh đến đây. Tôi đến nơi cần hoạt động và tôi nghe những người đến trước kể rằng, người VN cảm kích khi chúng tôi tình nguyện đến giúp họ. Linh động, có khả năng thích nghi với hoàn cảnh bằng đầu óc cởi mởi, tinh thần quyết tâm là một phần của một chiến sĩ đặc công (Green Baret) giỏi.* Cái bóng đèn tròn treo lủng lẳng trên mái nhà, gần chỗ tôi nằm bật sáng làm tôi tỉnh giấc. Một giọng nói cộc lốc của viên Trung sĩ gọi tôi đi gặp Trung tá Tuttle. *- Ông ấy muốn cùng ăn sáng với anh trong 30 phút tới, Đại úy.* Anh ta hét lớn và bỏ đi, không thèm đợi tôi nói gì. *- Chúc mừng Giáng sinh, Trung sĩ.* Tôi nói vọng theo khi anh ta đã ra khỏi dãy phòng và trở lại bàn làm việc. Chắc anh ta không có hứng thú với lễ Giáng sinh. Trung tá Tuttle chào tôi khi tôi mới bước vào phòng. Tôi chào lại và nhìn xung quanh. Không thấy bóng ai khác ngoài người đầu bếp. Tôi thấy hơi lạ cho đến khi thấy dòng chữ dán trên bảng: *"Buổi ăn sáng Giáng sinh: 9:00"*. Tôi hiểu ra trung tá mốn nó chuyện riêng, mặt đối mặt với tôi. Chúng tôi bắt tay. Tôi ngồi xuống, một cô gái phục vụ trẻ, người Việt, khá xinh, mặc bộ váy màu trắng, đeo tạp dề, đặt một tách cà phê nóng lên bàn và bày món ăn: thịt heo, 2 quả trứng, bánh pancakes và bánh mì. Tôi đói. Trung tá nhường tôi và làm 1 ngụm cà phê. Mùi thịt heo nướng tỏa khắp phòng. Tôi nghiền ngẫm 1 lúc về người đàn ông mạnh mẽ, được mọi người kể lại rằng ông ta là một chỉ huy giỏi trên chiến trường. Ông ta gầy, ngồi thẳng lương, có vẻ nghiêm khắc, đầu thì hói như trái bóng bàn. Thấp hơn tôi chỡ 1 inch, gầy hơn, ánh mắt sắc xảo và thể hiện mạnh mẽ. Không chút nghi ngờ việc ông ta e ngại ở đây. Ông ta cho tôi thấy con người đó ngay khi cô gái phục vụ đi chỗ khác. Hình như tôi cũng có chút danh tiếng. Ông ta nói mình đã phục vụ trong LLDB từ năm 1953, và ngạc nhiên là chúng tôi chưa từng gặp nhau. Ông ta cho tôi biết là một người bạn cũ của ông ta, Đại tá Patten, cũng là chỉ huy của tôi, đã kể về hoạt động của tôi ở Trung đoàn số 6 ở Fort Bragg. *- Ông ấy nói rằng anh cứng rắn, làm tới cùng để xong việc, bất kể trở ngại nào.* Vừa nói xong, ông ta xích sát vô bàn, nói hạ giọng lại, cười lớn và nói rằng Đại tá Patten đã nói thẳng với ông ta rằng tôi rất ranh mãnh khi cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Lúc đó tôi hiểu rằng, ông ta đã thảo luận với Đại tá Patten về phướng pháp làm việc của tôi.Trong hồ sơ đánh giá về tôi, lúc đó là Sĩ quan trưởng bộ phận Hậu cần, Đại tá Patten viết chính các những gì đã nói nãy giờ. Ông còn ghi thêm câu: "rất thích hợp tham gia Chiến tranh không quy ước". Điềm nhiên nhìn thẳng vào mắt tôi, ông ta nói đã đọc hết hồ sơ và hiểu về tôi, ưu khuyết điểm, công việc phù hợp có thể giao. Ông ta cần một người như tôi để chỉ huy phân đội A-424 ở Trại Dân Nam, phía Tây Bắc Cần Thơ, ở quận An Phú. *- Tôi sẽ cho anh vào vị trí ngay sau khi chúng ta họp xong sau buổi ăn sáng.* Tiếng lốc cốc của muỗng nĩa trên bào báo hiệu cuộc nói chuyện kết thúc. *Chúng tôi ăn trong êm lặng, tôi nhớ lại những ngày phụ vụ dưới trướng Đại tá Patten ở Trung đoàn 6. Rất khó khăn để phục vụ hậu cần cho các Đội huấn luyện di động khi họ được triển khai ở nước ngoài, nhiệm vụ bí mật và khó xác định vị trí, nhận dạng. Sử dụng hệ thống Bưu chính quốc tế, Đại sứ quán hoặc giao liên của CIA để chuyển hàng quan trọng như đạn dược và chất nổ, chúng tôi phải ghi lên ngoài hộp những thứ liên quan, vô hại hoặc có hại, như đồ hộp, quần áo may bị lỗi,... để được gửi đi. Cũng có những lần giữa năm 1964, tôi thấy sôi nổi và bị thách thức khi chỉ huy một nhóm 6 người LLDB trong các nhiệm vụ "Tối mật" diễn ra bất ngờ.* Tôi trở lại với hiện tại khi Trung tá Tuttle ăn xong, lau miệng và hỏi: *- Đang nghĩ về quê nhà hả?* *- Không thưa ngài, chỉ là một nơi khác thôi.* Tôi trả lời. Chúng tôi tráng miệng bằng cà phê rồi ông ta dẫn tôi ra khỏi phòng ăn, đến văn phòng của ông ta. Khi chúng tôi vào văn phòng, ông ta nói với viên Trung sĩ trực ban rằng ông ta muốn hoàn toàn được riêng tư, không được làm phiền. Viên Trung sĩ đóng tập hồ sơ, bước ra ngoài và khép cửa lại. Một tấm bản đồ nhiều màu, ghi vị trí phe ta và đối phương, một cây gậy đầu bịt kim loại, mấy tấm ảnh chụp tử trên không, ông Đại tá tóm tắt tình hình chiến thuật trong và xung quanh quận An Phú. ![Bản đồ quận An Phú tỉnh Châu Đốc 1960-1975](http://i.imgur.com/WkvYVRQ.jpg) Bản đồ quận An Phú tỉnh Châu Đốc 1960-1975 Bắt đầu với FOB Phú Hiệp (Forward Operations Base - Căn cứ hành quân tiền phương) cách 7km phía Đông Bắc trại Dân Nam và cách biên giới Campuchia 2km xuống phía Nam. Ông ta chỉ ra một khu vực công sự rộng lớn của đối phương, chỉ cách căn cứ Phú Hiệp 3 km trong lãnh thổ Campuchia. Bệnh viện cỡ 50 giường, đạn dược, thùng xăng dầu, nhà kho, trại lính đủ chứa một tiểu đoàn hơn 400 quân. Căn cứ bí mật Bưng Ven (mật cứ) được cung cấp vật liệu và hàng hóa chiến tranh từ miền Nam VN qua sông Mekong bằng tàu bè có đăng ký Quốc tế. > Ngày nay đồn Phú Hiệp nằm ở gần khu dân cư ấp Phú Lợi xã Phú Hữu (xem bản đồ quận An Phú, tỉnh Châu Đốc). Ở Phnom Penh, hàng hóa được đưa lên các tàu bè nhỏ hơn và trở ngược lại phía Nam tới Prek Chrey, nơi họ có thể đi theo sông Bắc Nam và chuyển hàng hóa vào khu mật cứ. Ông ta giải thích: *- Trong vòng 6 tháng qua, quân Giải phóng đã giành được một khu vực chạy dọc 1,5km, ngang 3km ở giữa đồn Phú Hiệp và biên giới. Một Tiểu đoàn bí mật của quân Giải phóng, khoảng 400 người, đóng tại đó để bảo vệ nguồn nước và đường vào căn cứ. Một Trung đội phòng không của quân miền Bắc VN cũng vừa gia nhập vào Tiểu đoàn này để chống lại máy bay trinh sát.* *- Sao lại để cho đối phương chiếm khu vực đó?* Tôi hỏi. Ông ta giải thích rằng Thiếu tá Phồi đã khôn ngoan không tấn công vào đó, tránh tổn thất lực lượng trước bẫy mìn, súng bắn tỉa chừng nào mà ông ấy (TT Phồi) không được phép truy đuổi đối phương bên trong lãnh thổ Campuchia, không thì ông ấy sẽ tự hại mình. *- Đó là nơi mà anh sẽ đến, Dan Nguy hiểm. Tôi muốn anh chỉ huy trại Dân Nam và Phân đội biên phòng A-424, tự do hành động. Tôi muốn anh mang cuộc chiến vào bên trong lãnh thổ Campuchia. Anh sẽ là người đầu tiên làm điều đó.* Ông ta bắt đầu giải thích rằng CIA đang dàn xếp với Thủ tướng Kỳ (Nguyễn Cao Kỳ). *- Những điều mà chúng ta nói ở đây, không bao giờ được phép ra khỏi căn phòng này.* Ông ta cảnh báo. Tôi chỉ cung cấp vài thông tin như thế tới phân đội của tôi (phân đội A biên phòng) khi thi hành nhiệm vụ. Đây là một chiến dịch riêng rẽ và Ban chỉ huy "B" không được biết bất cứ chi tiết nào. Tôi có thể tùy ý xử lý chuyện đó khi nói tiếp xúc với Chỉ huy trưởng của Ban chỉ huy B. Giữ khoảng cách và lẩn tránh nếu cần. Ông ta nhấn mạnh: *- Nếu anh đồng ý và một khi anh bước ra khỏi phòng, coi như chúng ta chưa từng gặp nhau. Rõ chứ?* *- Vâng thưa ngài, còn hỗ trợ hậu cần chiến đấu thì thế nào?* Tôi hỏi. Ông ta cho tôi biết rằng tôi phải tự mình lo liệu. *- Khi anh vượt qua biên giới, anh mất hết hỗ trợ. Không có trực thăng, pháo kích, quân tiếp viện. Kể cả hỗ trợ y tế. Không có gì hết.* Ông ta mô tả về Thiếu ta Lê Văn Phồi, chỉ huy trưởng LLDB quân đội VNCH tại An Phú, một người kiên nghị và là một tín đồ Hòa Hảo (HH) lỗi lạc. Tôi đã đọc qua và nghe những người lính LLDB khác kể về giáo phái Phật giáo này. Họ chiến đấu gan dạ và tự trọng. Bằng nhiều giọng điệu khác nhau, Trung tá Tuttle kể cho tôi rằng: theo yêu cầu của Thiếu tá Phồi thì Thiếu tá Chuẩn (Nguyễn Thành Chuẩn), Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy "C" LLDB, đã gặp ông ta và đề nghị chuyển công tác vị Đại úy người Mỹ, chỉ huy phân đội A ở An Phú. Tuttle thảo luận với Thiếu tá Arnn và luân chuyển người chỉ huy ra khỏi An Phú ngay ngày hôm sau. Ông ta bộc bạch: *- Phân đội A-424 đã không có chỉ huy từ lúc đó.* Ông ta cho tôi coi 1 bản báo cáo tháng rồi của phân đội A-424. Tôi thấy lực lượng Dân sự chiến đấu (LLDSCD) Hòa Hảo có 5 Đại đội (132 người/đội). Dưới sự chỉ huy của Quận trưởng là 1 Trung đội pháo kích 155mm (15 ly) của quân lực VNCH. Hai Đại đội Địa phương quân đóng gần trại chịu sự chỉ huy của Đại úy Tươi, kiêm chức Quận trưởng, quản lý và bảo vệ hơn 64.000 người dân An Phú, đa số theo đạo HH. 30km biên giới và cửa ngõ sông Hậu cần được bảo vệ. Nhiệm vụ Tối mật mới này là một bài kiểm tra thực tế cho tất cả chúng tôi. Cách chúng tôi làm, mức độ thành công của chúng tôi trong việc xoay chuyển dòng xoáy chiến tranh tại khu vực nhỏ bé của mình, sẽ tạo một sự chuyển biến cho toàn cõi Việt Nam. Trung tá Tuttle giải thích rằng Thiếu tá Phồi còn là cố vấn quân sự của Ban trị sự trung ương HH, đã thúc ép Chủ tịch ban trị sự Lương Trọng Tường đến gặp Trung tướng Đặng Văn Quang, chỉ huy Vùng 4 chiến thuật, để đảm bảo ông ấy có được quyền tấn công sang biên giới. Ông Tường đã gặp tướng Quang và yêu cầu đã được gửi đến Bộ trưởng Quốc phòng, người sau đó đã thỏa hiệp với Thủ tướng Kỳ và CIA. Kết quả là một nhiệm vụ độc lập, tối mật được triển khai tại An Phú. Đây là một phép thử. Thiếu tá Phồi còn đạt được yêu cầu cho phép một Đội trưởng người Mỹ làm Chỉ huy trưởng của trại, giúp họ có quyền tấn công vào nước Campuchia trung lập. An Phú sẽ là quận biên giới đầu tiên chối bỏ các An toàn khu của quân Giải phóng. *- Tại sao phải giữ kín chuyện này?* Tôi hỏi. *- "Chính trị", ông ta nói, "các quan chức ở Nhà trắng đã xác nhận là không có căn cứ nào của đối phương ở Campuchia".* Không cần nghi ngờ, chúng ta đều biết đó là sự dối trá. Thái tử Sihanouk phá vỡ quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ ngày 3-5-1965, thế nhưng bộ ngoại giao Hoa Kỳ không nôn nóng tạo ra bất cứ lý do nào để CHND Trung Hoa can thiệp vào cuộc xung đột. *- "Thật lố lăng"*, tôi nói. Bọn họ đã can thiệp ngay từ những ngày đầu, cung cấp vũ khí cho quân Giải phóng và quân chính quy miền Bắc, số lượng vũ khí đó còn nhiều hơn cả số vũ khí mà chúng ta cung cấp cho phía VNCH. Ông Đại tá không cãi lại gì cả, chỉ nhìn thẳng vào mắt tôi và hỏi tôi có quyết định chưa. *- Tôi muốn An Phú, thưa trung tá.* Tôi biết mình có thể tăng cường quan hệ chỉ huy với Thiếu tá Phồi. Người của ông ấy cần ông ấy lãnh đạo, người mà họ có thể tin cậy qua nhiều trận chiến. Tôi không muốn phá vỡ điều đó. Tôi hỏi nếu các hoạt động chiến đấu nằm trong lãnh thổ CPC, kể cả nổ súng gián tiếp, tôi có phải ghi chú hoặc báo cáo lại không? *- "Bất cứ thứ gì liên quan tới nhiệm vụ bí mật này đều không được phép báo cáo hoặc ghi lại. Không Situation Reports (SITREPs) and Spot Intelligence Reports (SPOTREPs) hay bất cứ thứ gì thể hiện sự vi phạm biên giới và không phận quốc tế. Phải làm như không có gì xảy ra cả". Ông ta nhấn mạnh. "Anh còn muốn An Phú nữa không?"* Tôi trả lời có, nhưng với một điều kiện. Giọng nói nghiêm túc cho thấy ông ta không thích đòi hỏi của cấp dưới. *- Điều kiện gì, Đại úy?* *- Tôi muốn tự tay chọn người cho đội của mình, không thắc mắc.* *- Anh có nó.* Tôi có thể giữ lại bất kỳ ai hoặc toàn bộ phân đội có sẵn ở An Phú. Ông Đại tá sẽ thay thế bất kỳ ai tôi bỏ ra. *- Đủ công bằng chưa?* Chúng tôi bắt tay thỏa thuận. *- Hãy sẵn sàng bắt đầu vào sáng mai, Nguy hiểm, và chúc may mắn.* Sau khi cân nhắc mọi thứ, trung tá Tuttle bàn về chiến dịch độc lập, mối nguy kề cập, hoàn toàn không được chính quyền Mỹ hậu thuẫn, tôi quyết định thực hiện một kế hoạch bí mật để đảm bảo bảo vệ được sự thật về các mệnh lênh chỉ huy của mình, không bận tâm mình sống hay chết. Tôi phải tài liệu hóa các mệnh lệnh đó và gửi cho một người bạn mà tôi tin tưởng ở Mỹ để cất giữ. Nếu có chuyện xảy ra với tôi, người bạn đó sẽ nhờ một luật sư mở đống tài liệu này và cung cấp sự thật cho gia đình các đồng đội của tôi, Quốc hội và truyền thông. May thay, tôi tìm lại được đống tài liệu đó và sử dụng trong bản thảo của quyển sách này. Tôi gửi các bản copy cho các bạn đồng sự cũ để họ góp ý và bổ sung. ![Bản đồ các căn cứ cách mạng ở An Giang năm 1957-1975](http://i.imgur.com/FltkssC.jpg) Bản đồ các căn cứ cách mạng ở An Giang năm 1957-1975 Ngày Giáng sinh, tôi ăn no nê trong buổi ăn tối với gà quay truyền thống. Nhớ lại những buổi tối Giáng sinh trước, Kate làm "hư" tôi với các món ăn, nhất là món bánh hạnh nhận khoái khẩu. Ăn tối xong, tôi tắm nhanh, cầm bút viết thư cho cô ấy, nơi tôi đang ở, tôi học được những gì về tình hình trên vùng đất An Phú và dũng khí của binh lính HH. *- "Đừng lo lắng em nhé!", tôi viết, "Vì anh ở chung với những người tốt".* Tôi không ghi bất cứ điều gì làm cô ấy lo lắng mà chỉ bảy tỏ nỗi nhớ. Tôi vào mùng, nhắm mắt lại, dù suốt đêm trời nóng, tôi vẫn ngủ ngon. Tôi đã ở nơi mà mình muốn. `* * * * * * * * * * * * * * `
 
0
trả lời

Chương 2: Vụ thảm sát ở phía Tây Rạch Giá - Massacre West of Rach Gia

(đoạn đầu)

Kinh Thánh 35:30 - Nếu ai giết một người nào, người ta sẽ cứ theo lời khai của những người chứng mà giết kẻ sát nhơn; nhưng một người chứng không đủ cớ đặng giết ai.

- Chuyện gì vậy Đại tá? Tôi tức giận hét lớn vào gã phi công. Lính của ông vừa xả súng vào nông dân không có vũ khí, có cả phụ nữ và trẻ em nữa. Ông có bị điên không!
- Bình tĩnh Đại úy, hắn ta đáp trả tụi nó chỉ mấy đứa da vàng thôi. Chúng ta còn phải đếm xác nữa.

Ngay sau 9:00 sáng hôm sau đêm Giáng sinh, tôi báo cáo với trung tâm điều hành và lập tức di chuyển lên chiếc trực thăng đang đợi. Có một viên Trung úy trẻ đã ngồi sẵn trên đó, quay lưng lại khoang của tổ phi công. Tôi đặt hành lý lên sàn trực thăng ngay kế bên cậu ta. Tay súng ngồi bên hông cửa bên phải đưa ngón tay cái lên ra hiệu cho phi công, chúng tôi cất cánh và bay về hướng Tây, ngang qua khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

- Tôi sẽ tới Hà Tiên, Đại úy. Tôi sẽ làm phó chỉ huy phân đội. Cậu trung úy hét lớn vào tai tôi và cười mãn nguyện.

Tiếng ồn của trực thăng và gió rít làm át đi lời chúc mừng của tôi. Chúng tôi đang lên tới độ cao khoảng 600m, ngoài tầm bắn của các loại vũ khí nhỏ. Điểm đến đầu tiên có thể là trại dân vệ ở Rạch Giá, cách Cần Thơ cỡ 100km, nằm phía Bắc thị xã ven biển có dân số khoảng 100.000 người. Hai tay súng bên cửa ra dấu sẵn sàng khai hỏa khẩu súng 30 ly, rà soát dấu hiệu của quân Giải phóng bên dưới mặt đất. Nhiều băng đạn đã nạp sẵn trên súng.

Chúng tôi bay ngang nhiều đồn điền và các khu dân cư bị bao bọc bởi các con đường xung quanh. Những ngôi làng này từng là niềm tự hào thời thực dân Pháp, sau đó đầu năm 1960 được CIA đưa vào chương trình Ấp chiến lược, giờ đây đa số lại bị quân Giải phóng chiếm được. Chúng tôi bay tiếp ngang qua cánh đồng lúa bạt ngàn và các xóm nhỏ dọc các kênh rạch của sông Cửu Long. Một màu xanh vô tận vượt xa khỏi tầm mắt, ánh sáng bình minh chiếu lên các hàng cây tạo thành những bóng dài ven theo kênh rạch. Từ trên trực thăng có thể nhìn thấy các con đường nhỏ và các con đê nối liền các xóm ấp. Bên dưới có vài nhóm nông dân đang làm việc, dường dư họ không chú ý tới chiếc trực thăng đang bay đến. Mấy con trâu đang kéo cài dưới sự điều khiển của chủ. Trông thật thanh bình và nên thơ.

Tôi bắt đầu nhìn thấy vịnh Thái Lan và thị xã Rạch Giá ở phía xa, bất ngờ, trực thăng lao dốc xuống với tốc độ chóng mặt. Tôi sợ trực thăng hỏng và mình sắp rơi xuống đất. May thay trực thăng giữ được thăng bằng và bay trở lên khi chỉ cách con đê trên ruộng có vài mét.

Cậu trung úy trẻ rướn người về phía tôi và hét lớn:
- Chuyện gì vậy, thưa ngài?
Tôi gật đầu, chẳng biết ra sao nhưng có lẽ chúng tôi vừa bị tấn công. Tôi nhìn về phía khoang lái và thấy phi công là một viên Đại tá. Thường thì phi công chỉ là Sĩ quan trung cấp.

Trực thăng tiếp tục rào rú, rung lắc khi bay ngang mấy ngôi nhà tranh ven con rạch chính. Tôi nhìn sang phía cậu trung úy, mặt cậu ta tái mét như người chưa từng trãi qua những tình huống tương tự.

Gã Đại tá thay đổi hướng bay, hướng về phía Tây Bắc tới trại Lực lượng đặc biệt ở Hà Tiên, cách khoảng 90km và băng ngang cánh đồng lúa với tốc độ nhanh. Cậu trung úy vẫn còn tái mét mặt mày, mồ hôi nhiểu từ trên cánh mũi ra, dù rằng không khí khá lạnh khi trực thăng đang mở trống cửa. Tôi nắm tay phải cậu ta, mỉm cười trấn an và hét vào tai cậu ta là "Ổn rồi!". Cậu ta cười gượng và xoay người nhìn xuống dưới đất. Chúng tôi đang bay lên cao khoảng 300m thì bỗng khựng lại và hạ xuống cách mặt đất cỡ 30m, rồi từ từ bay đi với tốc độ 130km/h. Tôi thừa sức nhảy lên máy bay và nhảy dù xuống với bất kỳ loại máy bay quân sự nào. Trước đây, cỡ đầu năm 1954, tôi từng lái trực thăng mini bay qua gầm cầu sông Hàn ở Seoul, Hàn Quốc. Mắc mớ gì mà gã Đại tá này lại bay cao ở ngang đầu ngọn cây? Trong khi khu vực này đang bị quân Giải phóng kiểm soát và họ có khả năng bắn hạ chúng tôi? Chẳng mấy chốc tôi hiểu ra kế hoạch tàn bạo của gã phi công.

Quang cảnh làng quê đồng bằng sông Cửu Long những năm 1960-1975 nhìn từ trực thăng - kinh Vĩnh Tế
Quang cảnh làng quê đồng bằng sông Cửu Long những năm 1960-1975 nhìn từ trực thăng - kinh Vĩnh Tế.

Tôi rướn người ra phía cửa để xem có gì bên dưới. Chẳng thấy bóng dáng quân Giải phóng đâu, chỉ có vài người nông dân đang làm ruộng. Đàn ông, phụ nữ và trẻ em hết thảy chắc khoảng 20 người. Còn có 2 con trâu đang kéo cày nữa, chẳng ai chú ý chúng tôi đang bay đến. Bất thình lình, hai tay súng nã hàng loạt đạn đạn xuống những người nông dân bên dưới. Tôi vô vọng nhìn họ bị bắn, nằm lê lết hoặc chết tức tưởi khi té ngã xuống, nước văng tung tóe. Những người khác tìm cách chạy trốn nòng súng thì lại bị bắn thẳng vào lưng, nằm chết úp mặt xuống ruộng. Tôi tự hỏi:
-Trời ơi, chuyện gì thế này? Sao tụi nó lại giết những người nông dân kia?.

Tôi đưa 1 tay ra nắm thành cửa, rướn người ra xem những người bên dưới có vũ khí không. Không có gì cả! Chúng tôi bay vòng trở lại. Tôi đoán chắc bọn họ đã bắn nhằm người vô tội, chắc là họ muốn tìm bằng chứng những người nông dân kia có vũ khí. Trực thăng bay chậm cỡ 60km/h và là là sát mặt ruộng, tôi chỉ thấy có những xác chết đẫm máu trên đồng. Con trâu hình như không bị trúng đạn, còn đứng với cách ách trên cổ, nó chờ ông chủ ra lệnh cày tiếp. Thế nhưng chủ nó giờ nằm bất động, tay vẫn còn nắm cây roi. Quá kinh khủng, tôi thúc cùi chỏ vào cậu trung úy và hỏi xem cậu ấy có thấy vũ khí bên dưới không. Cậu ta chỉ lắc đầu. Khuôn mặt trắng bệt như ma, chả biết có phải bị sốc vì thấy cảnh giết chóc hay không, cậu ta chỉ im lặng. Tôi vớ người nắm lấy vai hai tay súng và bảo họ ngừng bắn. Tiếng ồn của động cơ chắc làm át đi tiếng của tôi, nhưng có vẻ bọn họ hiểu được khi nhìn miệng tôi. Họ vội vàng thu súng lại và ngồi lùi vào trong. Tôi gỡ mấy băng đạn ra khỏi súng và quăng xuống sàn trực thăng.
Tôi vớ lấy một chiếc mũ sắt có tai nghe của một tay súng và gọi cho phi công:
- Chuyện gì vậy Đại tá? Lính của ông vừa xả súng vào nông dân không có vũ khí, có cả phụ nữ và trẻ em nữa. Ông có bị điên không!
Tiếng trả lời có vẻ ngạo mạn của hắn qua tai nghe:
- Bình tĩnh Đại úy, hắn ta đáp trả tụi nó chỉ mấy đứa da vàng thôi. Chúng ta còn phải đếm xác nữa.
Tôi không thể nào quên câu nói tiếp sau đó của hắn:
- Đại tướng Westmoreland muốn đếm xác chết. Khi ti có thể đếm thêm xác, tôi sẽ bắn và không thắc mắc gì cả.

Tôi đưa tay phải ra nắm lấy vai của hắn và kéo mạnh lại, đến nỗi gân máu trên tay tôi nổi cả lên. Tôi hét vào tai hắn, nếu hắn còn dám làm như vậy nữa, tôi sẽ làm bất cứ cách nào để cho trực thăng rơi xuống đất. Tôi nắm chặt vai hắn thêm và hét lớn:
- Tao nói nghiêm túc đó, thằng khốn!.

Hắn ta không nói gì, đổi hướng và bay lên cao hơn, tới thắng Hà Tiên như bình thường. Tôi hỏi họ tên nhưng hắn không trả lời. Gã phi công phó cũng im lặng. Tôi buộc phải rướn người tới để xem bảng tên phù hiệu của bọn họ nhưng không thấy. Tôi thấy rất khó chịu khi không thể lấy được danh tính của gã đại tá để có thể trính báo lại sự việc cho ban chỉ huy B ở Châu Đốc. Tức giận vì những người dân vô tội bị giết chỉ vì có những kẻ muốn đếm nhiều xác chết, nhưng tôi lại không thể lấy được thông tin của tổ bay, nhất là tên đại tá, để ghi vào báo cáo. Tôi quay sang hai tay súng, bọn chúng cũng không có bảng tên. Tôi đành quay sang cậu trung úy đang con run rẩy, mong cậu ấy sẽ hợp tác và làm chứng cho tôi, bởi cậu ấy sắp xuống trực thăng rồi.

Tôi sẽ không bao giờ quên cảnh tượng những người nông dân vô tội bị bắn gục trên đồng bởi bàn tay của những kẻ máu lạnh này. Không có từ ngữ nào diễn tả hết... Hơn cả chục người Việt Nam bị giết. Trong phút chốc nhiều gia đình, cả cha, mẹ lẫn con cái đều nằm bất động, máu loang ra đầy ruộng lúa. Sau này tôi nghe một cựu binh ở chiến trường Việt Nam kể lại rằng đại tướng Westmoreland bị mê hoặc với việc đếm xác chết kẻ thù và nhân viên của lão ta dùng con số người chết bên phía đối phương để tính toán mức độ thành công của nhiệm vụ.

Trong kế hoạch Tìm-Diệt, lãnh đạo Mỹ so sánh số lính tử vong giữa hai bên để tính mức độ thắng bại. Một số lính Mỹ tàn sát dân thường để làm tăng số người chết bên phía quân Giải phóng.

Tôi hi vọng bọn họ chỉ phóng đại sự thật, nhưng rủi thay khi đến An Phú, tôi lại thấy được sự rùng rợn, chết chóc và tàn phá diễn ra như thế nào. Các sĩ quan chỉ cố làm hài lòng các lãnh đạo. Khi tôi viết điều này, đã 36 năm trôi qua, tôi cầu mong ít nhất một thành viên trong tổ bay ngày đó thấy ăn năn và kể lại chi tiết sự việc. Đó là tội ác chiến tranh và tên đại tá phải ra trước tòa vì tội ác của hắn. Quá trễ cho các nạn nhân nhưng không hề muộn cho những thân nhân của họ thấy được cô lý.
Cậu trung úy chúi nhủi tới trước, mỗ hôi nhuễ nhại, rõ ràng đang đau bụng. Tôi đỡ cậu ta lên và cố làm cậu ấy trấn tĩnh, hi vọng cậu ấy nhớ lại sự việc mới xảy ra ở gần Rạch Giá lúc nãy. Một lát sau chúng tôi đã thấy được thị trấn Hà Tiên với những hàng cây, bãi cát và những công viên đẹp bên bờ biển xanh thẳm của vịnh Thái Lan. Bãi biển và bến tàu được bảo vệ bởi vịnh bao xung quanh. Một nơi tuyệt vời để nghỉ dưỡng nếu không có chiến tranh. Chúng tôi bay theo một con đường hướng ra xa thị trấn, bên trên một bãi cỏ bằng phẳng. Có một vùng đệm ở giữa thị trấn và pháo đài của đội đặc nhiệm ở Hà Tiên. Đồn nằm trên một ngọn đồi cao nhô ra biển, trông như một cái ngón tay cái khổng lồ. Chúng tôi tiến đến, hướng về phía con đường với nhiều cây nhỏ, đây là một căn cứ cũ của Pháp.

Tôi nhớ lại các thông tin tình báo trước đây và nhận ra căn cứ của quân Giải phóng nằm ở ằm ở Kampong Trach, bên kia dãy núi phía Tây đồn, bên trong lãnh thổ Campuchia. Quân Giải phóng dùng căn cứ đó để huấn luyện chiến đấu. Chỗ đó rất lý tưởng cho họ khi tấn công hoặc rút lui. Tôi thấy khó chịu khi chính phủ của mình lại để cho đối phương thành lập những căn cứ kiểu đó. Tôi hi vọng sẽ làm tốt hơn khi tới An Phú, suốt dọc biên giới, thậm chí vào bên trong đất Campuchia.

Chúng tôi sắp đáp xuống đât, tôi ngước nhìn mặt cậu trung úy. Có vẻ cậu ấy đã khá hơn, mỉm cười khi thấy an toàn để gia nhập đội mới dưới mặt đất. Tôi chồm người tới và hỏi lớn cậu ta bởi tiếng trực thăng quá lớn. Tôi hỏi cậu ấy có thấy vũ khí trên cánh đồng lúc nãy không. Cậu ta bỗng tỏ vẻ bối rối và hỏi lại:
- Chỗ nào?
Tôi nhắc lại vụ việc mới xảy ra lúc nãy gần Rạch Giá. Cậu ta lắc đầu và bảo không hiểu tôi đang nói gì. Cậu ấy chỉ nhớ bị say máy bya đến lã người. Tôi biết chuyện đòi công lý cho thảm kịch lúc nãy coi như tan thành mây khói. Trực thăng hạ càng lên bãi đáp, cậu trung úy vớ lấy hành lý và nhảy xuống, chạy đến chiếc xe jeep đang chờ, rồi vẫy tay chào khi chúng tôi bay trở lên.

100km từ đó đến Châu Đốc chẳng có gì xảy ra. Gã đại tá bay cặp biên giới phía Đông của Campuchia, bay ngang đồn Vĩnh Gia. Đó là một trại lính hình vuông, thiết kế tốt để chống bị tấn công trên bộ. Bờ phía Tây của trại nằm kế bên một con kinh. Một ngọn đồi từ Campuchia chĩa sang cánh đồng, rất gần biên giới. Viên đại úy trẻ bị ngồi tù mà trung tá Tuttle kể cho tôi nghe là người đã đánh trả quân Giải phóng. Đối phương đã chiến thắng khi tấn công trại của anh ta bằng cách nã pháo từ một vị trí thuận lợi trên đồi. Tôi nhớ Tuttle không muốn nói nhiều về sự việc đó.

Đoạn cuối của chuyến bay, chúng tôi đi ngang vùng Bảy núi, một khu vực mà quân Giải phóng chiếm cứ chặt chẽ ở phía Tây Châu Đốc. Chỗ nay phe chúng tôi kiểm soát đường xá ban ngày, Giải phóng kiểm soát ban đêm. Chúng tôi bay ngang thị xã Châu Phú, trung tâm hành chính của tỉnh Châu Đốc, nơi ban chỉ huy B đóng quân.

Châu Phú là tên gọi cũ tỉnh lỵ của tỉnh Châu Đốc, không phải huyện Châu Phú ngày nay. Có thể thấy các phường Châu Phú A và B ngày nay của thành phố Châu Đốc để so sánh.

## Chương 2: Vụ thảm sát ở phía Tây Rạch Giá - Massacre West of Rach Gia #### (đoạn đầu) **_Kinh Thánh 35:30 - Nếu ai giết một người nào, người ta sẽ cứ theo lời khai của những người chứng mà giết kẻ sát nhơn; nhưng một người chứng không đủ cớ đặng giết ai._** > *- Chuyện gì vậy Đại tá?* Tôi tức giận hét lớn vào gã phi công. *Lính của ông vừa xả súng vào nông dân không có vũ khí, có cả phụ nữ và trẻ em nữa. Ông có bị điên không!* *- Bình tĩnh Đại úy,* hắn ta đáp trả *tụi nó chỉ mấy đứa da vàng thôi. Chúng ta còn phải đếm xác nữa*. Ngay sau 9:00 sáng hôm sau đêm Giáng sinh, tôi báo cáo với trung tâm điều hành và lập tức di chuyển lên chiếc trực thăng đang đợi. Có một viên Trung úy trẻ đã ngồi sẵn trên đó, quay lưng lại khoang của tổ phi công. Tôi đặt hành lý lên sàn trực thăng ngay kế bên cậu ta. Tay súng ngồi bên hông cửa bên phải đưa ngón tay cái lên ra hiệu cho phi công, chúng tôi cất cánh và bay về hướng Tây, ngang qua khu vực đồng bằng sông Cửu Long. *- Tôi sẽ tới Hà Tiên, Đại úy. Tôi sẽ làm phó chỉ huy phân đội.* Cậu trung úy hét lớn vào tai tôi và cười mãn nguyện. Tiếng ồn của trực thăng và gió rít làm át đi lời chúc mừng của tôi. Chúng tôi đang lên tới độ cao khoảng 600m, ngoài tầm bắn của các loại vũ khí nhỏ. Điểm đến đầu tiên có thể là trại dân vệ ở Rạch Giá, cách Cần Thơ cỡ 100km, nằm phía Bắc thị xã ven biển có dân số khoảng 100.000 người. Hai tay súng bên cửa ra dấu sẵn sàng khai hỏa khẩu súng 30 ly, rà soát dấu hiệu của quân Giải phóng bên dưới mặt đất. Nhiều băng đạn đã nạp sẵn trên súng. Chúng tôi bay ngang nhiều đồn điền và các khu dân cư bị bao bọc bởi các con đường xung quanh. Những ngôi làng này từng là niềm tự hào thời thực dân Pháp, sau đó đầu năm 1960 được CIA đưa vào chương trình Ấp chiến lược, giờ đây đa số lại bị quân Giải phóng chiếm được. Chúng tôi bay tiếp ngang qua cánh đồng lúa bạt ngàn và các xóm nhỏ dọc các kênh rạch của sông Cửu Long. Một màu xanh vô tận vượt xa khỏi tầm mắt, ánh sáng bình minh chiếu lên các hàng cây tạo thành những bóng dài ven theo kênh rạch. Từ trên trực thăng có thể nhìn thấy các con đường nhỏ và các con đê nối liền các xóm ấp. Bên dưới có vài nhóm nông dân đang làm việc, dường dư họ không chú ý tới chiếc trực thăng đang bay đến. Mấy con trâu đang kéo cài dưới sự điều khiển của chủ. Trông thật thanh bình và nên thơ. Tôi bắt đầu nhìn thấy vịnh Thái Lan và thị xã Rạch Giá ở phía xa, bất ngờ, trực thăng lao dốc xuống với tốc độ chóng mặt. Tôi sợ trực thăng hỏng và mình sắp rơi xuống đất. May thay trực thăng giữ được thăng bằng và bay trở lên khi chỉ cách con đê trên ruộng có vài mét. Cậu trung úy trẻ rướn người về phía tôi và hét lớn: *- Chuyện gì vậy, thưa ngài?* Tôi gật đầu, chẳng biết ra sao nhưng có lẽ chúng tôi vừa bị tấn công. Tôi nhìn về phía khoang lái và thấy phi công là một viên Đại tá. Thường thì phi công chỉ là Sĩ quan trung cấp. Trực thăng tiếp tục rào rú, rung lắc khi bay ngang mấy ngôi nhà tranh ven con rạch chính. Tôi nhìn sang phía cậu trung úy, mặt cậu ta tái mét như người chưa từng trãi qua những tình huống tương tự. Gã Đại tá thay đổi hướng bay, hướng về phía Tây Bắc tới trại Lực lượng đặc biệt ở Hà Tiên, cách khoảng 90km và băng ngang cánh đồng lúa với tốc độ nhanh. Cậu trung úy vẫn còn tái mét mặt mày, mồ hôi nhiểu từ trên cánh mũi ra, dù rằng không khí khá lạnh khi trực thăng đang mở trống cửa. Tôi nắm tay phải cậu ta, mỉm cười trấn an và hét vào tai cậu ta là *"Ổn rồi!"*. Cậu ta cười gượng và xoay người nhìn xuống dưới đất. Chúng tôi đang bay lên cao khoảng 300m thì bỗng khựng lại và hạ xuống cách mặt đất cỡ 30m, rồi từ từ bay đi với tốc độ 130km/h. Tôi thừa sức nhảy lên máy bay và nhảy dù xuống với bất kỳ loại máy bay quân sự nào. Trước đây, cỡ đầu năm 1954, tôi từng lái trực thăng mini bay qua gầm cầu sông Hàn ở Seoul, Hàn Quốc. Mắc mớ gì mà gã Đại tá này lại bay cao ở ngang đầu ngọn cây? Trong khi khu vực này đang bị quân Giải phóng kiểm soát và họ có khả năng bắn hạ chúng tôi? Chẳng mấy chốc tôi hiểu ra kế hoạch tàn bạo của gã phi công. ![Quang cảnh làng quê đồng bằng sông Cửu Long những năm 1960-1975 nhìn từ trực thăng - kinh Vĩnh Tế](http://i.imgur.com/c7v4yYV.jpg) Quang cảnh làng quê đồng bằng sông Cửu Long những năm 1960-1975 nhìn từ trực thăng - kinh Vĩnh Tế. Tôi rướn người ra phía cửa để xem có gì bên dưới. Chẳng thấy bóng dáng quân Giải phóng đâu, chỉ có vài người nông dân đang làm ruộng. Đàn ông, phụ nữ và trẻ em hết thảy chắc khoảng 20 người. Còn có 2 con trâu đang kéo cày nữa, chẳng ai chú ý chúng tôi đang bay đến. Bất thình lình, hai tay súng nã hàng loạt đạn đạn xuống những người nông dân bên dưới. Tôi vô vọng nhìn họ bị bắn, nằm lê lết hoặc chết tức tưởi khi té ngã xuống, nước văng tung tóe. Những người khác tìm cách chạy trốn nòng súng thì lại bị bắn thẳng vào lưng, nằm chết úp mặt xuống ruộng. Tôi tự hỏi: *-Trời ơi, chuyện gì thế này? Sao tụi nó lại giết những người nông dân kia?*. Tôi đưa 1 tay ra nắm thành cửa, rướn người ra xem những người bên dưới có vũ khí không. Không có gì cả! Chúng tôi bay vòng trở lại. Tôi đoán chắc bọn họ đã bắn nhằm người vô tội, chắc là họ muốn tìm bằng chứng những người nông dân kia có vũ khí. Trực thăng bay chậm cỡ 60km/h và là là sát mặt ruộng, tôi chỉ thấy có những xác chết đẫm máu trên đồng. Con trâu hình như không bị trúng đạn, còn đứng với cách ách trên cổ, nó chờ ông chủ ra lệnh cày tiếp. Thế nhưng chủ nó giờ nằm bất động, tay vẫn còn nắm cây roi. Quá kinh khủng, tôi thúc cùi chỏ vào cậu trung úy và hỏi xem cậu ấy có thấy vũ khí bên dưới không. Cậu ta chỉ lắc đầu. Khuôn mặt trắng bệt như ma, chả biết có phải bị sốc vì thấy cảnh giết chóc hay không, cậu ta chỉ im lặng. Tôi vớ người nắm lấy vai hai tay súng và bảo họ ngừng bắn. Tiếng ồn của động cơ chắc làm át đi tiếng của tôi, nhưng có vẻ bọn họ hiểu được khi nhìn miệng tôi. Họ vội vàng thu súng lại và ngồi lùi vào trong. Tôi gỡ mấy băng đạn ra khỏi súng và quăng xuống sàn trực thăng. Tôi vớ lấy một chiếc mũ sắt có tai nghe của một tay súng và gọi cho phi công: *- Chuyện gì vậy Đại tá? Lính của ông vừa xả súng vào nông dân không có vũ khí, có cả phụ nữ và trẻ em nữa. Ông có bị điên không!* Tiếng trả lời có vẻ ngạo mạn của hắn qua tai nghe: *- Bình tĩnh Đại úy,* hắn ta đáp trả *tụi nó chỉ mấy đứa da vàng thôi. Chúng ta còn phải đếm xác nữa*. Tôi không thể nào quên câu nói tiếp sau đó của hắn: *- Đại tướng Westmoreland muốn đếm xác chết. Khi ti có thể đếm thêm xác, tôi sẽ bắn và không thắc mắc gì cả.* Tôi đưa tay phải ra nắm lấy vai của hắn và kéo mạnh lại, đến nỗi gân máu trên tay tôi nổi cả lên. Tôi hét vào tai hắn, nếu hắn còn dám làm như vậy nữa, tôi sẽ làm bất cứ cách nào để cho trực thăng rơi xuống đất. Tôi nắm chặt vai hắn thêm và hét lớn: *- Tao nói nghiêm túc đó, thằng khốn!.* Hắn ta không nói gì, đổi hướng và bay lên cao hơn, tới thắng Hà Tiên như bình thường. Tôi hỏi họ tên nhưng hắn không trả lời. Gã phi công phó cũng im lặng. Tôi buộc phải rướn người tới để xem bảng tên phù hiệu của bọn họ nhưng không thấy. Tôi thấy rất khó chịu khi không thể lấy được danh tính của gã đại tá để có thể trính báo lại sự việc cho ban chỉ huy B ở Châu Đốc. Tức giận vì những người dân vô tội bị giết chỉ vì có những kẻ muốn đếm nhiều xác chết, nhưng tôi lại không thể lấy được thông tin của tổ bay, nhất là tên đại tá, để ghi vào báo cáo. Tôi quay sang hai tay súng, bọn chúng cũng không có bảng tên. Tôi đành quay sang cậu trung úy đang con run rẩy, mong cậu ấy sẽ hợp tác và làm chứng cho tôi, bởi cậu ấy sắp xuống trực thăng rồi. Tôi sẽ không bao giờ quên cảnh tượng những người nông dân vô tội bị bắn gục trên đồng bởi bàn tay của những kẻ máu lạnh này. Không có từ ngữ nào diễn tả hết... Hơn cả chục người Việt Nam bị giết. Trong phút chốc nhiều gia đình, cả cha, mẹ lẫn con cái đều nằm bất động, máu loang ra đầy ruộng lúa. Sau này tôi nghe một cựu binh ở chiến trường Việt Nam kể lại rằng đại tướng Westmoreland bị mê hoặc với việc đếm xác chết kẻ thù và nhân viên của lão ta dùng con số người chết bên phía đối phương để tính toán mức độ thành công của nhiệm vụ. > Trong kế hoạch Tìm-Diệt, lãnh đạo Mỹ so sánh số lính tử vong giữa hai bên để tính mức độ thắng bại. Một số lính Mỹ tàn sát dân thường để làm tăng số người chết bên phía quân Giải phóng. Tôi hi vọng bọn họ chỉ phóng đại sự thật, nhưng rủi thay khi đến An Phú, tôi lại thấy được sự rùng rợn, chết chóc và tàn phá diễn ra như thế nào. Các sĩ quan chỉ cố làm hài lòng các lãnh đạo. Khi tôi viết điều này, đã 36 năm trôi qua, tôi cầu mong ít nhất một thành viên trong tổ bay ngày đó thấy ăn năn và kể lại chi tiết sự việc. Đó là tội ác chiến tranh và tên đại tá phải ra trước tòa vì tội ác của hắn. Quá trễ cho các nạn nhân nhưng không hề muộn cho những thân nhân của họ thấy được cô lý. Cậu trung úy chúi nhủi tới trước, mỗ hôi nhuễ nhại, rõ ràng đang đau bụng. Tôi đỡ cậu ta lên và cố làm cậu ấy trấn tĩnh, hi vọng cậu ấy nhớ lại sự việc mới xảy ra ở gần Rạch Giá lúc nãy. Một lát sau chúng tôi đã thấy được thị trấn Hà Tiên với những hàng cây, bãi cát và những công viên đẹp bên bờ biển xanh thẳm của vịnh Thái Lan. Bãi biển và bến tàu được bảo vệ bởi vịnh bao xung quanh. Một nơi tuyệt vời để nghỉ dưỡng nếu không có chiến tranh. Chúng tôi bay theo một con đường hướng ra xa thị trấn, bên trên một bãi cỏ bằng phẳng. Có một vùng đệm ở giữa thị trấn và pháo đài của đội đặc nhiệm ở Hà Tiên. Đồn nằm trên một ngọn đồi cao nhô ra biển, trông như một cái ngón tay cái khổng lồ. Chúng tôi tiến đến, hướng về phía con đường với nhiều cây nhỏ, đây là một căn cứ cũ của Pháp. Tôi nhớ lại các thông tin tình báo trước đây và nhận ra căn cứ của quân Giải phóng nằm ở ằm ở Kampong Trach, bên kia dãy núi phía Tây đồn, bên trong lãnh thổ Campuchia. Quân Giải phóng dùng căn cứ đó để huấn luyện chiến đấu. Chỗ đó rất lý tưởng cho họ khi tấn công hoặc rút lui. Tôi thấy khó chịu khi chính phủ của mình lại để cho đối phương thành lập những căn cứ kiểu đó. Tôi hi vọng sẽ làm tốt hơn khi tới An Phú, suốt dọc biên giới, thậm chí vào bên trong đất Campuchia. Chúng tôi sắp đáp xuống đât, tôi ngước nhìn mặt cậu trung úy. Có vẻ cậu ấy đã khá hơn, mỉm cười khi thấy an toàn để gia nhập đội mới dưới mặt đất. Tôi chồm người tới và hỏi lớn cậu ta bởi tiếng trực thăng quá lớn. Tôi hỏi cậu ấy có thấy vũ khí trên cánh đồng lúc nãy không. Cậu ta bỗng tỏ vẻ bối rối và hỏi lại: *- Chỗ nào?* Tôi nhắc lại vụ việc mới xảy ra lúc nãy gần Rạch Giá. Cậu ta lắc đầu và bảo không hiểu tôi đang nói gì. Cậu ấy chỉ nhớ bị say máy bya đến lã người. Tôi biết chuyện đòi công lý cho thảm kịch lúc nãy coi như tan thành mây khói. Trực thăng hạ càng lên bãi đáp, cậu trung úy vớ lấy hành lý và nhảy xuống, chạy đến chiếc xe jeep đang chờ, rồi vẫy tay chào khi chúng tôi bay trở lên. 100km từ đó đến Châu Đốc chẳng có gì xảy ra. Gã đại tá bay cặp biên giới phía Đông của Campuchia, bay ngang đồn Vĩnh Gia. Đó là một trại lính hình vuông, thiết kế tốt để chống bị tấn công trên bộ. Bờ phía Tây của trại nằm kế bên một con kinh. Một ngọn đồi từ Campuchia chĩa sang cánh đồng, rất gần biên giới. Viên đại úy trẻ bị ngồi tù mà trung tá Tuttle kể cho tôi nghe là người đã đánh trả quân Giải phóng. Đối phương đã chiến thắng khi tấn công trại của anh ta bằng cách nã pháo từ một vị trí thuận lợi trên đồi. Tôi nhớ Tuttle không muốn nói nhiều về sự việc đó. Đoạn cuối của chuyến bay, chúng tôi đi ngang vùng Bảy núi, một khu vực mà quân Giải phóng chiếm cứ chặt chẽ ở phía Tây Châu Đốc. Chỗ nay phe chúng tôi kiểm soát đường xá ban ngày, Giải phóng kiểm soát ban đêm. Chúng tôi bay ngang thị xã Châu Phú, trung tâm hành chính của tỉnh Châu Đốc, nơi ban chỉ huy B đóng quân. > Châu Phú là tên gọi cũ tỉnh lỵ của tỉnh Châu Đốc, không phải huyện Châu Phú ngày nay. Có thể thấy các phường Châu Phú A và B ngày nay của thành phố Châu Đốc để so sánh.
 
0
trả lời

Chương 2: Vụ thảm sát ở phía Tây Rạch Giá - Massacre West of Rach Gia

(đoạn sau)

Chúng tôi tiến chậm dần khi sắp tới bãi đáp trực thăng nằm trong một sân vận động. Tôi thấy phải nhanh chóng cầm lấy hành lý trên sàn trực thăng, nếu không muốn chúng rơi. Tôi dám chắc mình chẳng mất mát chút cảm tình nào với gã đại tá phi công. Chắc lão ta rất muốn quăng tôi xuống vịnh Thái Lan, dìm chết tôi với đống hành lý trên người. Chẳng phaỉ đợi lâu, càng trực thăng xoáy xuống đất, trực thăng bị xoay một vòng 180 độ rồi chúi nhủi và bật ngửa lại mới dừng hẳn, mũi trực thăng chạm cả đất. Cái càng bên chỗ tôi ngồi bị hụt một chút, làm tôi phải trượt xuống đất, hành lý bị rơi ra xa nhưng tôi vẫn giữ được khẩu súng M16 trên tay.

Sau lưng, tôi nghe ai đó quát hô to:
- Chào mừng tới B-42, đại úy. Có sao không, chậm chút xíu nữa là ông bị té xuống đất rồi.
Tôi không nói chi tiết, chỉ bảo với ông ta rằng chuyện dài lắm.
- Chắc ông phi công không thích tôi.
Chúng tôi cùng cười. Ông ta chợt chuyển sang giọng nghiêm túc khi cho tôi biết thông tin của ban chỉ huy B. Ông ta tự giới thiệu mình là trung sĩ tham mưu, có cùng cấp bậc với tôi.
- Hôm nay tệ lắm đại úy. Thiếu tá Arnn và trung sĩ Torello đã bị lính bắn tỉa của Giải phóng bắn chết sáng nay, ở gần chân Bảy núi. Thiếu tá Williford đã cũng nửa đội đi truy lùng các tay súng bắn tỉa. Ông ấy nói sẽ về đồn lúc 16:00 và gặp anh lúc 8:00 sáng hôm sau. Anh phải có mặt để báo cáo lúc 9:00 sáng vì sẽ có hai người từ đội của anh đi tàu xuống rước anh lúc đó. Tôi cũng không ngại nói cho anh biết luôn, thiếu tá Arnn đã không hài lòng khi nghe trung tá Tuttle cử anh tới làm chỉ huy phân đội A-424. Chuyện này diễn ra nhanh quá, đại úy. Chỉ huy trưởng của chúng ta thường hay quyết định kiểu đó. Anh có muốn nói gì không, đại úy?

Ông ta nói đúng, nhưng đáng tiếc là tôi không thể giải thích tại sao mình lại được bổ nhiệm không theo đúng quy trình. Ông ấy là trung sĩ tham mưu cho chỉ huy trưởng nên quan tâm như thế cũng chả có gì sai cả. Tôi cố giả vờ như mình cũng không biết trước tại sao lại được phân công như vậy, hầu đánh lạc hướng của ông ấy. Dù gì thì thiếu tá Arnn cũng đã chết rồi, chẳng còn ai đụng chạm tới nhiệm vụ của tôi.
Tôi nói với ông ta rằng mình rất buồn khi thấy thiếu tá Arnn và trung sĩ Torello bị giết. Tôi cũng hi vọng bọn họ sẽ bắt được những tay lính Giải phóng đã phục kích giết 2 họ. Tôi cũng thắc mắc liệu nhiệm vụ đó có quá khó không khi mà tôi nghe nói quân Giải phóng kiểm soát vùng Bảy núi. Ông ấy nói rằng bọn họ đã cho máy bay B-52 ném bom dọn đường trước khi hành quân vào vùng đó. Tôi tỏ ý rất đồng tình với cách làm của họ. Tôi còn nói thêm rằng lúc ở bộ chỉ huy Cần Thơ tôi có nghe loáng thoáng được một ít thông tin về An Phú.
-Thiếu tá Chuẩn (Nguyễn Thành Chuẩn) nói với Trung tá Tuttle rằng ông ta muốn một vị đại úy khác đi An Phú nhận nhiệm vụ, bởi vì phân đội ở An Phú đã không có chỉ huy trưởng lâu lắm rồi.

Thiếu tá John Oliver Arnn là chỉ huy trưởng lực lực đặc biệt Hoa Kỳ tại tỉnh Châu Đốc. Ngày 26/12/1965, trên đường từ Châu Đốc đi Ba Chúc, xe jeep của ông ta bị phục kích bằng mìn và thiệt mạng.

Ông ta tỏ vẻ lúng túng khi tôi kể chuyện đó. Không để ông ta nói thêm, tôi vội yêu cầu ông ta đưa tôi tới doanh trại để tôi tắm rửa. Tôi cũng nóng lòng muốn viết nhanh bản tường trình cho bộ chỉ huy Châu Đốc. Chúng tôi lên xe jeep và ông ta chở tôi đến doanh trại của bộ chỉ huy B cách đó vài trăm mét. Xe dừng lại trên con đường lát đá nhỏ đối diện một khách sạn cũ, chỗ được dùng làm tòa nhà của bộ chỉ huy B.
Đậu xe gần mấy bao cát trước cổng, ông trung sĩ cầm ba lô và dẫn tôi đi bộ qua một cái cổng lớn rồi đi vào một hành lanh dài. Một quầy bar rộng, uốn cong có nhiều chiếc ghế xà cừ chiếm gần hết 1/3 diện tích. Còn có một cái tủ lạnh lớn nằm ở góc, kèm theo một tấm kính cao kế bên làm cho không quan có vẻ rộng thêm. Ngoài ra còn có một cái quạt trần lớn ở trên cao và nhiều bàn ghế dọc hành lang.

Doanh trại của ban chỉ huy B lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ tại Châu Đốc chính là thành PC (Poste de Central - Pháp xây năm 1882). Ngày là nay là trụ sở ban chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh An Giang, kế bên trường Thủ Khoa Nghĩa.

Ông ta bước lên một cái cầu thang lớn để lên tầng 2, rồi chỉ hướng về phía phòng ăn và toilet, phòng tắm ở phía cuối sảnh. Chúng tôi vào một phòng phía ngay mặt tòa nhà, ông ta để hành lý của tôi cạnh 2 chiếc giường sắt nhỏ trong phòng. Tôi cảm ơn, ông ta đi trở xuống. Phòng khá dài, hơi hẹp và có một cửa sổ rộng nhìn ra sân. Chỗ này có tầm nhìn rất tốt, tôi còn có thể nhìn thấy cả hàng cây trên con đường mà tôi vừa đi vào lúc đáp trực thăng. Xuyên qua cánh cổng lớn được bảo vệ kiên cố, tôi còn thấy cả bến tàu của ban chỉ huy B nằm nhô ra phía sông Châu Đốc tấp nập xuồng ghe.
Trong phòng còn được trang bị 2 cái đền lớn trên trần, ở giữa có một cây quạt. Cứ như kiểu trang trí trong phim Casablanca của diễn viên Humphrey Bogart. Hai cái giường được trang bị mấy thanh sắt để giăng mùng. Ở gần đó là một cái ghế xếp, một cái bàn giấy nhỏ và một cái tủ sắt dựa bên tường.

Tôi ngồi trên bàn và cẩn thận xâu chuỗi những chi tiết của vụ thảm sát vừa rồi. Tôi hi vọng chúng sẽ là bằng chứng trước tòa. Thế nhưng, không có nhân chứng nào khác, tôi e rằng báo cáo này sẽ chẳng đi đến đâu. Dù vậy, tôi cố gắng hết sức có thể để ghi thật tỉ mỉ vụ việc. Cửa sổ phòng nằm ngay phía trên sân, tiếng ồn ào làm tôi khó tập trung được. Xe cộ cứ ra vào cổng liên tục. Đóng cửa lại cho bớt ồn thì phòng lại quá nóng. Tôi tạm để bản báo cáo sang một bên và đi tắm, hi vọng một lát sẽ yên tĩnh hơn.
Trong lúc tôi lau mình, chợt tôi nhớ lại viên thượng sĩ ở Cần Thơ có mách rằng không nên mặc đồ lót khi ở đồng bằng sông Cửu Long vì rât nóng và khó chịu. Ông ta là người làm ở đó lâu rồi, lại biết rành điều kiện địa phương nên tôi khá tin tưởng. Tôi làm theo gợi ý đó, bỏ mấy bộ đồ lót lại ba lô, chỉ mang đôi vớ và mặc bộ đồ quân phục vào. Lúc đầu có vẻ kì cục, nhưng tôi nhanh chóng thấy quen với nó và cảm thấy mát mẻ hơn. Tôi trở lại bàn và viết tiếp, bên ngoài đã yên ắng trở lại. Tôi kể lại chi tiết vụ thảm sát và cả nỗ lực của tôi khi cố lấy danh tính của tên phi công. Cuối cung, tôi không quên nói lại vụ bị té ngã khi đáp trực thăng xuống sân vận động.

Trên đường đi tới phòng ăn, tôi ghé vào trung tâm truyền tin và thấy một cánh cửa kép (cửa kiểu Hà Lan) an ninh trước một phòng đầy máy radio để hai bên tường. Đây là một bộ phận quan trọng của việc truyền tin từ ất cả phân đội A tới Cần Thơ và ngược lại. Trên cánh cửa ghi một dòng chữ lớn màu đỏ, đậm: TRUNG TÂM TRUYỀN TIN - CHỈ DÀNH CHO NHÂN VIÊN. Trung sĩ Jonathan McCants, giám sát viên truyền tin, đang làm việc với chiếc radio. Kế bên là một anh lính đang đánh mã Morse cực nhanh tay mà tôi không thể ngờ nổi. Anh ta tự giới thiệu tên là Melmot Smalls và hỏi tôi cần gì.
- Dạ vâng, nhưng trước hết tôi phải nói với anh là anh đánh mã nhanh ghê quá. Ai ở bên đầu dây bên kia vậy?
Anh ta cảm ơn và nói rằng bên kia đầu dây là trung sĩ John Eleam, trung sĩ truyền tin ở An Phú.
- Cậu ta còn đánh mã nhanh hơn tôi nữa đó. Smalls thú nhận. Mỗi khi liên lạc với cậu ta là tôi phải ráng đánh nhanh theo.
- Nghe hay đấy, trung sĩ.
Tôi đưa bản báo cáo cho Smalls và nhờ cậu ấy gửi cho thiếu tá Williford vào lúc sáng mai.
- OK, đại úy. À, chúc ông may mắn khi tới An Phú nhé, ở đó có một gã khó "ưa" lắm.
- Cậu ta nói thiếu tá Phồi đó, đại úy. Trung sĩ McCants xen vào. Đồng đội của ông cứ đòi thay đổi sếp của phân đội A liên tục. Phải may mắn lắm ông mới trụ lại đó được.
Tôi cảm ơn anh ta vì đã báo trước chuyện đó và bảo rằng tôi khá nôn nóng được đặt chân tới An Phú.

Thiếu tá Phồi chắc hẳn rất khó tính. Ông ta tự mình phê chuẩn các nhiệm vụ tối mật có liên quan tới việc xâm nhập vào lãnh thổ nước Campuchia trung lập. Chắc hẳn phía lãnh đạo quân sự Sài Gòn cho phép ông ta làm vậy, và các đồng sự người Mỹ hoặc thích ông ta hoặc không ưa. Phía Mỹ đã thay thế một viên đại úy người Mỹ ở trại Dân Nam theo yêu cầu của ông Phồi và cử tôi đến thay thế. Họ muốn cuộc chiến được mở rộng sang phái bên kia biên giới.
Có lẽ hài lòng với thiếu tá Phồi nên CIA đã dùng nhiệm vụ bí mật này để tăng cường ảnh hưởng lên chương trình Phòng vệ dân sự (CIDG). Thông qua đó, CIA có thể gia tăng quyền quản lý quân đội, lực lượng bán vũ trang và theo túng chiến lược trên chiến trường. Nếu thành công, CIA có thể lấy lại vị trí của mình trong quân đội, sử dụng lính thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ và lính bản xứ có trang bị vũ khí trong các chiến dịch công khai và bí mật, để quyết định tương lai của toàn khu vực Đông Nam Á? Chỉ có thời gian mới trả lời được. Trong đầu tôi lúc đó chỉ có thể chắc chắn rằng 12 tháng kế tiếp sẽ là khoảng thời gian không thể nào quên suốt cuộc đời mình. Tôi hi vọng sẽ lấy được sự tin tưởng của ông Phồi và người của ông ta.

Tôi ngủ mà không hề nhận ra thiếu tá Williford đã về doanh trại lúc tối. Tôi thức dậy sáng sớm bởi một âm thanh khác lạ, thanh bình qua cửa sổ. Nhìn ra xa, phía sau cổng, tôi thấy đông đúc người Việt đang đi bộ, đạp xe, chạy xe lôi dọc theo con đường lát đá sỏi, song song với sông Châu Đốc. Tôi nhận ra mọi người đang đi chợ buổi sáng ở trung tâm Châu Phú. Ngay sát gần sát đường, con sông Châu Đốc tràn ngập ghe xuồng của thương lái, họ bán đủ loại: gạo, cá, thịt, dưa hấu,... ở ngoài chợ nổi trên sông, cách chỗ tôi ở không xa.

Lính Mỹ đi tham quan chợ Châu Đốc những năm 1960-1975
Lính Mỹ đi tham quan chợ Châu Đốc những năm 1960-1975

Sau khi ăn sáng với bánh pancake tẩm mật ong, có quét thịt và trứng, tôi về phòng lấy hành lý và đi xuống dưới sảnh để đợi báo cáo. Lát sau, thượng sĩ Marshall bước tới hành lang, tự giới thiệu và yêu cầu tôi đi theo, tới văn phòng của thiếu tá Williford. Ông thiếu tá và nhân viên đã đợi sẵn trong phòng, lúc mới vô tôi có cảm giác họ không mấy thân thiện. Đi ngang nhiều biểu đồ và bản đồ, tôi tới chỗ ông thiếu tá và báo cáo. Ông ta đứng đậy, đáp lại nghi thức chào của tôi ròi vớ tay ra bắt tay. Ông ta cao chắc hơn 1,8m và to con, da đen. Ông ấy bị hói và cạo tóc ngắn... Sau khi giới thiệu các nhân viên, ông ấy mới tôi ngồi. Ông ta nói với vẻ không hài lòng:
- Đại úy Marvin, tôi nhận được tin báo của trung tá Tuttle tối hôm qua, trực tiếp giao quyền chỉ huy phân đội A-424 cho anh. Ông ta nói sẽ cho anh biết cụ thể thông tin sau. Ông ta cũng muốn anh tới trại Dân Nam càng nhanh càng tốt. Mọi chuyện như anh thấy đã được sắp xếp xong hết.
Ông ấy hỏi tôi có biết tại sao trường hợp của tôi lại không theo quy trình và tại sao tôi được giao nhiệm vụ trực tiếp từ chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Cần Thơ?
- Tôi không biết thưa ngài. Tôi vừa mới tới Việt Nam và không biết gì khác lạ Tôi cho rằng đây là cách làm việc của ông ta.
Thiếu tá Williford không hỏi thêm gì. Ông ấy cho tôi biết tình hình, phân đội A-424 gồm 1 chỉ huy và 6 binh sĩ nghĩa vụ, trung úy John T. Kallunki là phó chỉ huy. Ông ấy ca ngợi Kallunki rất xuất sắc trong công tác dân sự và được đánh giá cao bởi ông quận trưởng An Phú, đại úy Nguyễn Văn Tươi.
- Nếu anh không có câu hỏi nào nữa, tôi sẽ đưa bản báo cáo cho thượng sĩ Lynch, anh ta sẽ giới thiệu anh với các binh sĩ trong đội của anh.
- Tôi không có câu hỏi nào, thưa ngài.

Thượng sĩ Lynch bước tới.
- Anh rất may mắn khi được chỉ huy A-424 đó đại úy.
Anh ta cho tôi biết họ rất năng nổ trong các dự án nhằm chiếm lấy "trái tim" và "khối óc" của người dân.
- Rất nhiều chương trình dân sự đang được triển khai, đi khám bệnh hàng ngày, xây trường học, xây cầu và bến tàu, nâng cấp lộ giao thông.
Anh ta chắc chắn rất tôn trọng bọn họ.
- Thượng sĩ Canuto Valenzuela là trung sĩ tác chiến trong phân đội, cậu ta khá lắm đại úy.
Anh ta cho tôi biết rằng cậu "Val" sẽ làm thay việc của tôi khi tôi chưa tới An Phú. Anh ta nói thêm:
- Tôi khuyên anh nên tham khảo ý kiến của Val khi anh thấy khó khăn.

Lynch rất hài lòng khi nói chuyên viên William Menkins vẫn còn nhớ tôi lúc ở chung trong trung đoàn 6 tại Fort Bragg. Anh ta nói cậu ta giờ đã là trung sĩ cấp E6 và phụ trách tình báo cho phân đội A-424. Gần đây, khi phân đội ít tham gia chiến sự, cậu ta cùng phó chỉ huy tham gia công tác dân sự.
- Cậu ta đã làm được một công việc phi thường, Val nói Menkins có quan hệ rất tốt với các viên chức của quận.
Anh ta cũng nói Menkins sẽ luân chuyển về Mỹ vào đầu tháng 2 tới.

Bác sĩ trưởng của đội là trung sĩ Santos D. Tenorio.
- Ai cũng biết anh ấy, họ hay gọi tắt là "T." Nhân viên quân y khác, cánh tay phải của "T", là trung sĩ George Kuchen.
Lynch kể, bọn họ hàng ngày đi tới khắp nơi trong quận để khám chữa bệnh, người dân rất yêu quý bọn họ, nhất là cám em thiếu nhi.
- Bọn họ cũng sẽ được luân chuyển vào đầu tháng 3 và chúng tôi đang cố tìm người thay thế vị trí.

Anh ta nói tiếp về trung sĩ John Eleam. Tôi ngắt lời và nói lúc nãy trung sĩ Smalls có nói một chút ít về Eleam và tôi rất thích.
- Tôi biết Eleam đánh mã rất nhanh. Tôi nói.
- Rất đúng, trung sĩ Eleam rất giỏi khi tập trung làm việc.
Lynch nói Eleam rất siêng năng nghiên cứu, cậu ấy có thể sẽ được thăng cấp lên chuẩn úy ngành truyền tin.

Thượng sĩ Lynch có vẻ không rành lắm về đội lực lượng đặc biệt VNCH, chỉ biết là Val nói rằng họ rất cừ khôi.
- Vậy là qua tốt cho tôi rồi. Tôi nói.
Tôi nghĩ một người cứng rắn như ông Phồi thì chắc sẽ rất khắt khe khi lựa người vào đội.
- Anh còn muốn biết thêm gì nữa không, đại úy?
- Ah, chỉ thêm 1 câu hỏi thôi, tinh thần của anh em trong phân đội thế nào vậy thượng sĩ?
- Không tốt lắm.
Anh ta nói ban chỉ huy B chả biết thông tin gì về phân đội ở An Phú từ chỉ huy trưởng của họ bị chuyển đi. Thiếu tá Phồi thì chẳng hề chia sẻ thông tin tình báo hay chiến lược gì cho phân đội nên mọi công tác dân sự đã tạm ngừng hết.
- Không thể nào giữ được tinh thần của đội trong hoàn cảnh như vậy.
Thiếu tá Williford cắt ngang cuộc thảo luận, bước ra khỏi ghế và bảo tôi sẽ có đầy đủ thông tin từ sĩ quan S-2 tại trung tâm tác chiến - tình báo. Tôi cám ơn ông thiếu tá và thượng sĩ Lynch rồi đi theo sĩ quan S-2. Chẳng có gì đặc biệt ở phòng đó cả, chỉ có vài bản báo cáo tình hình khu vực và các biểu đồ. Trên tường có một cái quạt lớn, quạt hết công suất để không khí mát hơn. Sau khi lấy các bản đồ về tình hình chiến sự, tôi hỏi sĩ quan S-2.
- An Phú và Tân Châu có hợp tác tuần tra biên giới không vậy?
- Không hề có.
Ông ta giải thích rằng Tân Châu chỉ có 3 đại đội phòng vệ dân sự. Hai trong số đó ở trại chính, đại đội còn lại thì đóng ở một cái đồn cách biên giới Campuchia có vài trăm mét bên bờ Tây sông Tiền. Quân Giải phóng ít hoạt động ở biên giới Tân Châu.
- Chúng tôi không chắc lắm, nhưng họ cũng chả muốn ngăn cản tàu bè hoạt động trên sông.
- Sao vây? Không phải chúng ta cấm vận chuyển vũ khí vào Campuchia sao?
Ông ta cười.
- Hi vọng là vậy, anh Nguy Hiểm, nhưng chắc không đơn giản vậy đâu. Chúng ta đều biết về thỏa thuận giữa hoàng gia Campuchia và Nhà trắng, cho phép tàu bè chở hàng hóa vào Campuchia. Do đó làm hạn chế khả năng kiểm tra tàu bè của chúng ta.
Có vẻ bọn họ tin tưởng tờ khai hàng hóa trên tàu. Nếu không có hàng hóa quân sự được liệt kê, cả chúng tôi lẫn cảnh sát VNCH đều không được phép kiểm tra các khoang tàu, cho dù có thấy khả nghi. Phía Giải phóng hình như cũng không muốn chiến sự lan ra trên đường thủy, làm ảnh hưởng tới các nguồn cung ứng quốc tế cho họ. Tình thế này chả khác gì vũ khí và súng đạn đi ngang trước mặt chúng tôi rồi tập kết vào các căn cứ bên kia biên giới. Lực lượng bên phía chúng tôi lại không được phép khám xét ghe tàu hoặc tấn công vào các căn cứ đó.
- Họ có biết chắc là vũ khí và đạn dược được cung cấp cho quân Giải phóng qua đường sông không?
- Tự hiểu đi, Dan. Tháng trước, chỉ huy trưởng phân đội Tân Châu bước lên một tàu hàng lớn và kiểm tra tờ khai hàng hóa. Nó ghi có 10.000 tấn đồ chơi trẻ em! Anh ta và cả các đồng sự cảnh sát VNCH đều không có thẩm quyền kiểm tra thực tế các thùng hàng. Chiếc tàu đó chạy tiếp sang Campuchia, đội của anh ta phái một toán thám báo đi theo. Nó cập bến bên trong biên giới Campuchia không tới 1km, họ chụp được nhiều tấm hình cho thấy hàng trăm lượt vũ khí đuợc bốc dỡ lên các xe tải của quân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt). Có lẽ chúng chạy tới Bưng Ven.
- Thiếu tá Arnn có làm gì không? Tôi hỏi.
- Ông ấy không thể làm gì cả. Sĩ quan S-2 phân trần. Chúng tôi phải làm rất nhiều việc. Ai cũng quá tải. Ồ, chúng tôi cũng có báo cáo vụ đó, nhưng chả có gì cả, không gì thay đổi hết. Tôi buộc phải nói với anh như vậy.
Tôi nói lớn với ông ta rằng chuyện này thật là một sự ngu xuẩn, chính phủ của chúng tôi đi kí kết một hiệp định có lợi cho đối phương.
- Chuyện này phải được thay đổi, ông thấy đúng không?
- Chắc rồi, Nguy Hiểm.
Tôi cám ơn ông ta và nói mình đã sẵn sàng đặt chân tới An Phú. Tôi nói:
- Nếu ông có cơ hội, đi lên An Phú nhé, tôi sẽ đích thân dẫn ông đi tham quan.
Nói xong tôi rời khỏi văn phòng.

Thật không thể hiểu nổi tại sao tổng thống, hoặc bất cứ quan chức nào trong chính quyền nước tôi, lại đi đồng ý cái hiệp ước khiến cho quân Mỹ và người dân nơi đây lâm vào cảnh nguy hiểm, rồi còn đồng lõa và tạo điều kiện cho đối phương được tiếp tế vũ khí? Nhiều người lính Mỹ, các nước đồng minh và người dân vô tội đã bị giết hoặc bị thương chỉ bởi vì lãnh đạo của chúng tôi thông đồng với đối phương. Họ cho phép đối phương thiết lập các căn cứ dọc biên giới, được luật pháp quốc tế bảo vệ, và tiếp tế hàng hóa, kể cả vũ khí.
Khi rời văn phòng tác chiến - tình báo, tôi thấy mình thật may mắn khi là người đầu tiên có thể tấn công vào các căn cứ đó đối phương. Đối phương sẽ không còn căn cứ an toàn nào trên biên giới An Phú. Khá xấu hổ khi tôi không thể nói ra điều đó cho ông Phồi và đồng đội biết khi mạo hiểm tấn công vào lãnh thổ Campuchia, còn chính quyền nước tôi thì sẽ không hỗ trợ bất cứ thứ gì khi chúng tôi bước chân vào cái quốc gia "trung lập" ấy. Chúng tôi là những người đầu tiên trong cuốc chiến này dám làm điều đáng ra phải làm, tự thân chiến đấu để đi đến thắng lợi mà không màng rào cản. Dù không được hỗ trợ hay báo cáo lại, trong lòng tôi tôi rất tự hào vì đã làm đúng, không có gì hối tiếc.

Tại An Phú, chúng tôi đã chiến đấu một cách đầy tự hào.

* * * * * * * * * * * * *

## Chương 2: Vụ thảm sát ở phía Tây Rạch Giá - Massacre West of Rach Gia #### (đoạn sau) Chúng tôi tiến chậm dần khi sắp tới bãi đáp trực thăng nằm trong một sân vận động. Tôi thấy phải nhanh chóng cầm lấy hành lý trên sàn trực thăng, nếu không muốn chúng rơi. Tôi dám chắc mình chẳng mất mát chút cảm tình nào với gã đại tá phi công. Chắc lão ta rất muốn quăng tôi xuống vịnh Thái Lan, dìm chết tôi với đống hành lý trên người. Chẳng phaỉ đợi lâu, càng trực thăng xoáy xuống đất, trực thăng bị xoay một vòng 180 độ rồi chúi nhủi và bật ngửa lại mới dừng hẳn, mũi trực thăng chạm cả đất. Cái càng bên chỗ tôi ngồi bị hụt một chút, làm tôi phải trượt xuống đất, hành lý bị rơi ra xa nhưng tôi vẫn giữ được khẩu súng M16 trên tay. Sau lưng, tôi nghe ai đó quát hô to: *- Chào mừng tới B-42, đại úy. Có sao không, chậm chút xíu nữa là ông bị té xuống đất rồi.* Tôi không nói chi tiết, chỉ bảo với ông ta rằng chuyện dài lắm. *- Chắc ông phi công không thích tôi.* Chúng tôi cùng cười. Ông ta chợt chuyển sang giọng nghiêm túc khi cho tôi biết thông tin của ban chỉ huy B. Ông ta tự giới thiệu mình là trung sĩ tham mưu, có cùng cấp bậc với tôi. *- Hôm nay tệ lắm đại úy. Thiếu tá Arnn và trung sĩ Torello đã bị lính bắn tỉa của Giải phóng bắn chết sáng nay, ở gần chân Bảy núi. Thiếu tá Williford đã cũng nửa đội đi truy lùng các tay súng bắn tỉa. Ông ấy nói sẽ về đồn lúc 16:00 và gặp anh lúc 8:00 sáng hôm sau. Anh phải có mặt để báo cáo lúc 9:00 sáng vì sẽ có hai người từ đội của anh đi tàu xuống rước anh lúc đó. Tôi cũng không ngại nói cho anh biết luôn, thiếu tá Arnn đã không hài lòng khi nghe trung tá Tuttle cử anh tới làm chỉ huy phân đội A-424. Chuyện này diễn ra nhanh quá, đại úy. Chỉ huy trưởng của chúng ta thường hay quyết định kiểu đó. Anh có muốn nói gì không, đại úy?* Ông ta nói đúng, nhưng đáng tiếc là tôi không thể giải thích tại sao mình lại được bổ nhiệm không theo đúng quy trình. Ông ấy là trung sĩ tham mưu cho chỉ huy trưởng nên quan tâm như thế cũng chả có gì sai cả. Tôi cố giả vờ như mình cũng không biết trước tại sao lại được phân công như vậy, hầu đánh lạc hướng của ông ấy. Dù gì thì thiếu tá Arnn cũng đã chết rồi, chẳng còn ai đụng chạm tới nhiệm vụ của tôi. Tôi nói với ông ta rằng mình rất buồn khi thấy thiếu tá Arnn và trung sĩ Torello bị giết. Tôi cũng hi vọng bọn họ sẽ bắt được những tay lính Giải phóng đã phục kích giết 2 họ. Tôi cũng thắc mắc liệu nhiệm vụ đó có quá khó không khi mà tôi nghe nói quân Giải phóng kiểm soát vùng Bảy núi. Ông ấy nói rằng bọn họ đã cho máy bay B-52 ném bom dọn đường trước khi hành quân vào vùng đó. Tôi tỏ ý rất đồng tình với cách làm của họ. Tôi còn nói thêm rằng lúc ở bộ chỉ huy Cần Thơ tôi có nghe loáng thoáng được một ít thông tin về An Phú. *-Thiếu tá Chuẩn* (Nguyễn Thành Chuẩn) *nói với Trung tá Tuttle rằng ông ta muốn một vị đại úy khác đi An Phú nhận nhiệm vụ, bởi vì phân đội ở An Phú đã không có chỉ huy trưởng lâu lắm rồi.* > Thiếu tá John Oliver Arnn là chỉ huy trưởng lực lực đặc biệt Hoa Kỳ tại tỉnh Châu Đốc. Ngày 26/12/1965, trên đường từ Châu Đốc đi Ba Chúc, xe jeep của ông ta bị phục kích bằng mìn và thiệt mạng. Ông ta tỏ vẻ lúng túng khi tôi kể chuyện đó. Không để ông ta nói thêm, tôi vội yêu cầu ông ta đưa tôi tới doanh trại để tôi tắm rửa. Tôi cũng nóng lòng muốn viết nhanh bản tường trình cho bộ chỉ huy Châu Đốc. Chúng tôi lên xe jeep và ông ta chở tôi đến doanh trại của bộ chỉ huy B cách đó vài trăm mét. Xe dừng lại trên con đường lát đá nhỏ đối diện một khách sạn cũ, chỗ được dùng làm tòa nhà của bộ chỉ huy B. Đậu xe gần mấy bao cát trước cổng, ông trung sĩ cầm ba lô và dẫn tôi đi bộ qua một cái cổng lớn rồi đi vào một hành lanh dài. Một quầy bar rộng, uốn cong có nhiều chiếc ghế xà cừ chiếm gần hết 1/3 diện tích. Còn có một cái tủ lạnh lớn nằm ở góc, kèm theo một tấm kính cao kế bên làm cho không quan có vẻ rộng thêm. Ngoài ra còn có một cái quạt trần lớn ở trên cao và nhiều bàn ghế dọc hành lang. > Doanh trại của ban chỉ huy B lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ tại Châu Đốc chính là thành PC (Poste de Central - Pháp xây năm 1882). Ngày là nay là trụ sở ban chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh An Giang, kế bên trường Thủ Khoa Nghĩa. Ông ta bước lên một cái cầu thang lớn để lên tầng 2, rồi chỉ hướng về phía phòng ăn và toilet, phòng tắm ở phía cuối sảnh. Chúng tôi vào một phòng phía ngay mặt tòa nhà, ông ta để hành lý của tôi cạnh 2 chiếc giường sắt nhỏ trong phòng. Tôi cảm ơn, ông ta đi trở xuống. Phòng khá dài, hơi hẹp và có một cửa sổ rộng nhìn ra sân. Chỗ này có tầm nhìn rất tốt, tôi còn có thể nhìn thấy cả hàng cây trên con đường mà tôi vừa đi vào lúc đáp trực thăng. Xuyên qua cánh cổng lớn được bảo vệ kiên cố, tôi còn thấy cả bến tàu của ban chỉ huy B nằm nhô ra phía sông Châu Đốc tấp nập xuồng ghe. Trong phòng còn được trang bị 2 cái đền lớn trên trần, ở giữa có một cây quạt. Cứ như kiểu trang trí trong phim Casablanca của diễn viên Humphrey Bogart. Hai cái giường được trang bị mấy thanh sắt để giăng mùng. Ở gần đó là một cái ghế xếp, một cái bàn giấy nhỏ và một cái tủ sắt dựa bên tường. Tôi ngồi trên bàn và cẩn thận xâu chuỗi những chi tiết của vụ thảm sát vừa rồi. Tôi hi vọng chúng sẽ là bằng chứng trước tòa. Thế nhưng, không có nhân chứng nào khác, tôi e rằng báo cáo này sẽ chẳng đi đến đâu. Dù vậy, tôi cố gắng hết sức có thể để ghi thật tỉ mỉ vụ việc. Cửa sổ phòng nằm ngay phía trên sân, tiếng ồn ào làm tôi khó tập trung được. Xe cộ cứ ra vào cổng liên tục. Đóng cửa lại cho bớt ồn thì phòng lại quá nóng. Tôi tạm để bản báo cáo sang một bên và đi tắm, hi vọng một lát sẽ yên tĩnh hơn. Trong lúc tôi lau mình, chợt tôi nhớ lại viên thượng sĩ ở Cần Thơ có mách rằng không nên mặc đồ lót khi ở đồng bằng sông Cửu Long vì rât nóng và khó chịu. Ông ta là người làm ở đó lâu rồi, lại biết rành điều kiện địa phương nên tôi khá tin tưởng. Tôi làm theo gợi ý đó, bỏ mấy bộ đồ lót lại ba lô, chỉ mang đôi vớ và mặc bộ đồ quân phục vào. Lúc đầu có vẻ kì cục, nhưng tôi nhanh chóng thấy quen với nó và cảm thấy mát mẻ hơn. Tôi trở lại bàn và viết tiếp, bên ngoài đã yên ắng trở lại. Tôi kể lại chi tiết vụ thảm sát và cả nỗ lực của tôi khi cố lấy danh tính của tên phi công. Cuối cung, tôi không quên nói lại vụ bị té ngã khi đáp trực thăng xuống sân vận động. Trên đường đi tới phòng ăn, tôi ghé vào trung tâm truyền tin và thấy một cánh cửa kép (cửa kiểu Hà Lan) an ninh trước một phòng đầy máy radio để hai bên tường. Đây là một bộ phận quan trọng của việc truyền tin từ ất cả phân đội A tới Cần Thơ và ngược lại. Trên cánh cửa ghi một dòng chữ lớn màu đỏ, đậm: ** TRUNG TÂM TRUYỀN TIN - CHỈ DÀNH CHO NHÂN VIÊN**. Trung sĩ Jonathan McCants, giám sát viên truyền tin, đang làm việc với chiếc radio. Kế bên là một anh lính đang đánh mã Morse cực nhanh tay mà tôi không thể ngờ nổi. Anh ta tự giới thiệu tên là Melmot Smalls và hỏi tôi cần gì. *- Dạ vâng, nhưng trước hết tôi phải nói với anh là anh đánh mã nhanh ghê quá. Ai ở bên đầu dây bên kia vậy?* Anh ta cảm ơn và nói rằng bên kia đầu dây là trung sĩ John Eleam, trung sĩ truyền tin ở An Phú. *- Cậu ta còn đánh mã nhanh hơn tôi nữa đó.* Smalls thú nhận. *Mỗi khi liên lạc với cậu ta là tôi phải ráng đánh nhanh theo.* *- Nghe hay đấy, trung sĩ.* Tôi đưa bản báo cáo cho Smalls và nhờ cậu ấy gửi cho thiếu tá Williford vào lúc sáng mai. *- OK, đại úy. À, chúc ông may mắn khi tới An Phú nhé, ở đó có một gã khó "ưa" lắm.* *- Cậu ta nói thiếu tá Phồi đó, đại úy.* Trung sĩ McCants xen vào. *Đồng đội của ông cứ đòi thay đổi sếp của phân đội A liên tục. Phải may mắn lắm ông mới trụ lại đó được.* Tôi cảm ơn anh ta vì đã báo trước chuyện đó và bảo rằng tôi khá nôn nóng được đặt chân tới An Phú. Thiếu tá Phồi chắc hẳn rất khó tính. Ông ta tự mình phê chuẩn các nhiệm vụ tối mật có liên quan tới việc xâm nhập vào lãnh thổ nước Campuchia trung lập. Chắc hẳn phía lãnh đạo quân sự Sài Gòn cho phép ông ta làm vậy, và các đồng sự người Mỹ hoặc thích ông ta hoặc không ưa. Phía Mỹ đã thay thế một viên đại úy người Mỹ ở trại Dân Nam theo yêu cầu của ông Phồi và cử tôi đến thay thế. Họ muốn cuộc chiến được mở rộng sang phái bên kia biên giới. Có lẽ hài lòng với thiếu tá Phồi nên CIA đã dùng nhiệm vụ bí mật này để tăng cường ảnh hưởng lên chương trình *Phòng vệ dân sự (CIDG)*. Thông qua đó, CIA có thể gia tăng quyền quản lý quân đội, lực lượng bán vũ trang và theo túng chiến lược trên chiến trường. Nếu thành công, CIA có thể lấy lại vị trí của mình trong quân đội, sử dụng lính thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ và lính bản xứ có trang bị vũ khí trong các chiến dịch công khai và bí mật, để quyết định tương lai của toàn khu vực Đông Nam Á? Chỉ có thời gian mới trả lời được. Trong đầu tôi lúc đó chỉ có thể chắc chắn rằng 12 tháng kế tiếp sẽ là khoảng thời gian không thể nào quên suốt cuộc đời mình. Tôi hi vọng sẽ lấy được sự tin tưởng của ông Phồi và người của ông ta. Tôi ngủ mà không hề nhận ra thiếu tá Williford đã về doanh trại lúc tối. Tôi thức dậy sáng sớm bởi một âm thanh khác lạ, thanh bình qua cửa sổ. Nhìn ra xa, phía sau cổng, tôi thấy đông đúc người Việt đang đi bộ, đạp xe, chạy xe lôi dọc theo con đường lát đá sỏi, song song với sông Châu Đốc. Tôi nhận ra mọi người đang đi chợ buổi sáng ở trung tâm Châu Phú. Ngay sát gần sát đường, con sông Châu Đốc tràn ngập ghe xuồng của thương lái, họ bán đủ loại: gạo, cá, thịt, dưa hấu,... ở ngoài chợ nổi trên sông, cách chỗ tôi ở không xa. ![Lính Mỹ đi tham quan chợ Châu Đốc những năm 1960-1975](http://i.imgur.com/mzSjf0T.jpg) Lính Mỹ đi tham quan chợ Châu Đốc những năm 1960-1975 Sau khi ăn sáng với bánh pancake tẩm mật ong, có quét thịt và trứng, tôi về phòng lấy hành lý và đi xuống dưới sảnh để đợi báo cáo. Lát sau, thượng sĩ Marshall bước tới hành lang, tự giới thiệu và yêu cầu tôi đi theo, tới văn phòng của thiếu tá Williford. Ông thiếu tá và nhân viên đã đợi sẵn trong phòng, lúc mới vô tôi có cảm giác họ không mấy thân thiện. Đi ngang nhiều biểu đồ và bản đồ, tôi tới chỗ ông thiếu tá và báo cáo. Ông ta đứng đậy, đáp lại nghi thức chào của tôi ròi vớ tay ra bắt tay. Ông ta cao chắc hơn 1,8m và to con, da đen. Ông ấy bị hói và cạo tóc ngắn... Sau khi giới thiệu các nhân viên, ông ấy mới tôi ngồi. Ông ta nói với vẻ không hài lòng: *- Đại úy Marvin, tôi nhận được tin báo của trung tá Tuttle tối hôm qua, trực tiếp giao quyền chỉ huy phân đội A-424 cho anh. Ông ta nói sẽ cho anh biết cụ thể thông tin sau. Ông ta cũng muốn anh tới trại Dân Nam càng nhanh càng tốt. Mọi chuyện như anh thấy đã được sắp xếp xong hết.* Ông ấy hỏi tôi có biết tại sao trường hợp của tôi lại không theo quy trình và tại sao tôi được giao nhiệm vụ trực tiếp từ chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Cần Thơ? *- Tôi không biết thưa ngài. Tôi vừa mới tới Việt Nam và không biết gì khác lạ Tôi cho rằng đây là cách làm việc của ông ta.* Thiếu tá Williford không hỏi thêm gì. Ông ấy cho tôi biết tình hình, phân đội A-424 gồm 1 chỉ huy và 6 binh sĩ nghĩa vụ, trung úy John T. Kallunki là phó chỉ huy. Ông ấy ca ngợi Kallunki rất xuất sắc trong công tác dân sự và được đánh giá cao bởi ông quận trưởng An Phú, đại úy Nguyễn Văn Tươi. *- Nếu anh không có câu hỏi nào nữa, tôi sẽ đưa bản báo cáo cho thượng sĩ Lynch, anh ta sẽ giới thiệu anh với các binh sĩ trong đội của anh.* *- Tôi không có câu hỏi nào, thưa ngài.* Thượng sĩ Lynch bước tới. *- Anh rất may mắn khi được chỉ huy A-424 đó đại úy.* Anh ta cho tôi biết họ rất năng nổ trong các dự án nhằm chiếm lấy "trái tim" và "khối óc" của người dân. *- Rất nhiều chương trình dân sự đang được triển khai, đi khám bệnh hàng ngày, xây trường học, xây cầu và bến tàu, nâng cấp lộ giao thông.* Anh ta chắc chắn rất tôn trọng bọn họ. *- Thượng sĩ Canuto Valenzuela là trung sĩ tác chiến trong phân đội, cậu ta khá lắm đại úy.* Anh ta cho tôi biết rằng cậu "Val" sẽ làm thay việc của tôi khi tôi chưa tới An Phú. Anh ta nói thêm: *- Tôi khuyên anh nên tham khảo ý kiến của Val khi anh thấy khó khăn.* Lynch rất hài lòng khi nói chuyên viên William Menkins vẫn còn nhớ tôi lúc ở chung trong trung đoàn 6 tại Fort Bragg. Anh ta nói cậu ta giờ đã là trung sĩ cấp E6 và phụ trách tình báo cho phân đội A-424. Gần đây, khi phân đội ít tham gia chiến sự, cậu ta cùng phó chỉ huy tham gia công tác dân sự. *- Cậu ta đã làm được một công việc phi thường, Val nói Menkins có quan hệ rất tốt với các viên chức của quận.* Anh ta cũng nói Menkins sẽ luân chuyển về Mỹ vào đầu tháng 2 tới. Bác sĩ trưởng của đội là trung sĩ Santos D. Tenorio. *- Ai cũng biết anh ấy, họ hay gọi tắt là "T." Nhân viên quân y khác, cánh tay phải của "T", là trung sĩ George Kuchen.* Lynch kể, bọn họ hàng ngày đi tới khắp nơi trong quận để khám chữa bệnh, người dân rất yêu quý bọn họ, nhất là cám em thiếu nhi. *- Bọn họ cũng sẽ được luân chuyển vào đầu tháng 3 và chúng tôi đang cố tìm người thay thế vị trí.* Anh ta nói tiếp về trung sĩ John Eleam. Tôi ngắt lời và nói lúc nãy trung sĩ Smalls có nói một chút ít về Eleam và tôi rất thích. *- Tôi biết Eleam đánh mã rất nhanh.* Tôi nói. *- Rất đúng, trung sĩ Eleam rất giỏi khi tập trung làm việc.* Lynch nói Eleam rất siêng năng nghiên cứu, cậu ấy có thể sẽ được thăng cấp lên chuẩn úy ngành truyền tin. Thượng sĩ Lynch có vẻ không rành lắm về đội lực lượng đặc biệt VNCH, chỉ biết là Val nói rằng họ rất cừ khôi. *- Vậy là qua tốt cho tôi rồi.* Tôi nói. Tôi nghĩ một người cứng rắn như ông Phồi thì chắc sẽ rất khắt khe khi lựa người vào đội. *- Anh còn muốn biết thêm gì nữa không, đại úy?* *- Ah, chỉ thêm 1 câu hỏi thôi, tinh thần của anh em trong phân đội thế nào vậy thượng sĩ?* *- Không tốt lắm.* Anh ta nói ban chỉ huy B chả biết thông tin gì về phân đội ở An Phú từ chỉ huy trưởng của họ bị chuyển đi. Thiếu tá Phồi thì chẳng hề chia sẻ thông tin tình báo hay chiến lược gì cho phân đội nên mọi công tác dân sự đã tạm ngừng hết. *- Không thể nào giữ được tinh thần của đội trong hoàn cảnh như vậy.* Thiếu tá Williford cắt ngang cuộc thảo luận, bước ra khỏi ghế và bảo tôi sẽ có đầy đủ thông tin từ sĩ quan S-2 tại trung tâm tác chiến - tình báo. Tôi cám ơn ông thiếu tá và thượng sĩ Lynch rồi đi theo sĩ quan S-2. Chẳng có gì đặc biệt ở phòng đó cả, chỉ có vài bản báo cáo tình hình khu vực và các biểu đồ. Trên tường có một cái quạt lớn, quạt hết công suất để không khí mát hơn. Sau khi lấy các bản đồ về tình hình chiến sự, tôi hỏi sĩ quan S-2. *- An Phú và Tân Châu có hợp tác tuần tra biên giới không vậy?* *- Không hề có.* Ông ta giải thích rằng Tân Châu chỉ có 3 đại đội phòng vệ dân sự. Hai trong số đó ở trại chính, đại đội còn lại thì đóng ở một cái đồn cách biên giới Campuchia có vài trăm mét bên bờ Tây sông Tiền. Quân Giải phóng ít hoạt động ở biên giới Tân Châu. *- Chúng tôi không chắc lắm, nhưng họ cũng chả muốn ngăn cản tàu bè hoạt động trên sông.* *- Sao vây? Không phải chúng ta cấm vận chuyển vũ khí vào Campuchia sao?* Ông ta cười. *- Hi vọng là vậy, anh Nguy Hiểm, nhưng chắc không đơn giản vậy đâu. Chúng ta đều biết về thỏa thuận giữa hoàng gia Campuchia và Nhà trắng, cho phép tàu bè chở hàng hóa vào Campuchia. Do đó làm hạn chế khả năng kiểm tra tàu bè của chúng ta.* Có vẻ bọn họ tin tưởng tờ khai hàng hóa trên tàu. Nếu không có hàng hóa quân sự được liệt kê, cả chúng tôi lẫn cảnh sát VNCH đều không được phép kiểm tra các khoang tàu, cho dù có thấy khả nghi. Phía Giải phóng hình như cũng không muốn chiến sự lan ra trên đường thủy, làm ảnh hưởng tới các nguồn cung ứng quốc tế cho họ. Tình thế này chả khác gì vũ khí và súng đạn đi ngang trước mặt chúng tôi rồi tập kết vào các căn cứ bên kia biên giới. Lực lượng bên phía chúng tôi lại không được phép khám xét ghe tàu hoặc tấn công vào các căn cứ đó. *- Họ có biết chắc là vũ khí và đạn dược được cung cấp cho quân Giải phóng qua đường sông không?* *- Tự hiểu đi, Dan. Tháng trước, chỉ huy trưởng phân đội Tân Châu bước lên một tàu hàng lớn và kiểm tra tờ khai hàng hóa. Nó ghi có 10.000 tấn đồ chơi trẻ em! Anh ta và cả các đồng sự cảnh sát VNCH đều không có thẩm quyền kiểm tra thực tế các thùng hàng. Chiếc tàu đó chạy tiếp sang Campuchia, đội của anh ta phái một toán thám báo đi theo. Nó cập bến bên trong biên giới Campuchia không tới 1km, họ chụp được nhiều tấm hình cho thấy hàng trăm lượt vũ khí đuợc bốc dỡ lên các xe tải của quân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt). Có lẽ chúng chạy tới Bưng Ven.* *- Thiếu tá Arnn có làm gì không?* Tôi hỏi. *- Ông ấy không thể làm gì cả.* Sĩ quan S-2 phân trần. *Chúng tôi phải làm rất nhiều việc. Ai cũng quá tải. Ồ, chúng tôi cũng có báo cáo vụ đó, nhưng chả có gì cả, không gì thay đổi hết. Tôi buộc phải nói với anh như vậy.* Tôi nói lớn với ông ta rằng chuyện này thật là một sự ngu xuẩn, chính phủ của chúng tôi đi kí kết một hiệp định có lợi cho đối phương. *- Chuyện này phải được thay đổi, ông thấy đúng không?* *- Chắc rồi, Nguy Hiểm.* Tôi cám ơn ông ta và nói mình đã sẵn sàng đặt chân tới An Phú. Tôi nói: *- Nếu ông có cơ hội, đi lên An Phú nhé, tôi sẽ đích thân dẫn ông đi tham quan.* Nói xong tôi rời khỏi văn phòng. Thật không thể hiểu nổi tại sao tổng thống, hoặc bất cứ quan chức nào trong chính quyền nước tôi, lại đi đồng ý cái hiệp ước khiến cho quân Mỹ và người dân nơi đây lâm vào cảnh nguy hiểm, rồi còn đồng lõa và tạo điều kiện cho đối phương được tiếp tế vũ khí? Nhiều người lính Mỹ, các nước đồng minh và người dân vô tội đã bị giết hoặc bị thương chỉ bởi vì lãnh đạo của chúng tôi thông đồng với đối phương. Họ cho phép đối phương thiết lập các căn cứ dọc biên giới, được luật pháp quốc tế bảo vệ, và tiếp tế hàng hóa, kể cả vũ khí. Khi rời văn phòng tác chiến - tình báo, tôi thấy mình thật may mắn khi là người đầu tiên có thể tấn công vào các căn cứ đó đối phương. Đối phương sẽ không còn căn cứ an toàn nào trên biên giới An Phú. Khá xấu hổ khi tôi không thể nói ra điều đó cho ông Phồi và đồng đội biết khi mạo hiểm tấn công vào lãnh thổ Campuchia, còn chính quyền nước tôi thì sẽ không hỗ trợ bất cứ thứ gì khi chúng tôi bước chân vào cái quốc gia "trung lập" ấy. Chúng tôi là những người đầu tiên trong cuốc chiến này dám làm điều đáng ra phải làm, tự thân chiến đấu để đi đến thắng lợi mà không màng rào cản. Dù không được hỗ trợ hay báo cáo lại, trong lòng tôi tôi rất tự hào vì đã làm đúng, không có gì hối tiếc. Tại An Phú, chúng tôi đã chiến đấu một cách đầy tự hào. `* * * * * * * * * * * * *`
 
0
trả lời
12
260
lượt xem
6
trả lời
1
theo dõi
xem trước trực tiếp
nhập ít nhất 10 ký tự
Cảnh báo: You mentioned %MENTIONS%, but they cannot see this message and will not be notified
Đang lưu...
Đã lưu
With selected deselect posts show selected posts
All posts under this topic will be đã xóa ?
Đang còn lưu nháp ... Click để sửa đổi lại
Xóa lưu nháp