Trạng thái
Chỉ riêng An Phú

Các tác phẩm của tác giả Khiêm Cung Dương Văn Chung

CHUYỆN VUI HẬU TRƯỜNG SÂN KHẤU

Khiêm Cung

Ai cũng biết sân khấu là nơi đào kép trình diễn. Phía sau sân khấu là hậu trường, nơi có che chắn kín đáo để cho đào kép hóa trang và nghỉ xả hơi trong lúc chờ tới phiên mình ra sân khấu trình diễn. Sân khấu và hậu trường thông với nhau bằng hai con đường xiên xiên, dừng bằng hai miếng vách gọi là cánh gà. Hậu trường có cửa thông với bên ngoài rạp, mấy bà bán hàng rong bày bán đủ thứ món ngon, như: hột é, lười ươi, mía, chè, cháo gà, bắp nướng thoa mỡ hành, nước đá bào, hột vịt lộn…v.v.

Người ta kể:

Hôm nọ, trong một tuồng hát, nghệ sĩ Bảy Nhiêu đóng vai cha, cô Năm Phỉ đóng vai con. Nghệ sĩ Bảy Nhiêu vừa diễn xong một màn thì vào phía sau hậu trường nghỉ xả hơi, ông cởi bộ râu dán keo để trên một cái ghế, ra ngoài sau ăn cháo gà. Cô Năm Phỉ vô ý ngồi lên chiếc ghế đó, bộ râu giả dán keo của nghệ sĩ Bảy Nhiêu dính vào đít cô Năm Phỉ.

Tới phiên cô Năm Phỉ ra sân khấu, mang theo bộ râu giả của nghệ sĩ Bảy Nhiêu.

Trên sân khấu cô Năm Phỉ đang tới hồi trông ngóng cha về, cô nhìn bên đông, ngó bên tây và gọi:

  • Cha ơi , cha ! Cha ơi, cha ! Sao cha lâu về quá vậy, cha ?

Trong khi đó, nghệ sĩ Bảy Nhiêu đã trở vào hậu trường, tìm mãi mà không thấy bộ râu, nên không làm sao trở ra sân khấu được. Như chợt đoán ra, ông đi đến chỗ cánh gà, nhìn thấy bộ râu dính trên người cô Năm Phỉ, ông gọi nho nhỏ:

  • Em Năm ơi, em Năm, em xích lại gần đây cho qua gỡ bộ râu !

http://thatsonchaudoc.com/banviet2/DuongVanChung_KC/TruyenNgan/chuyenvuihautruong.htm

## CHUYỆN VUI HẬU TRƯỜNG SÂN KHẤU ### Khiêm Cung Ai cũng biết sân khấu là nơi đào kép trình diễn. Phía sau sân khấu là hậu trường, nơi có che chắn kín đáo để cho đào kép hóa trang và nghỉ xả hơi trong lúc chờ tới phiên mình ra sân khấu trình diễn. Sân khấu và hậu trường thông với nhau bằng hai con đường xiên xiên, dừng bằng hai miếng vách gọi là cánh gà. Hậu trường có cửa thông với bên ngoài rạp, mấy bà bán hàng rong bày bán đủ thứ món ngon, như: hột é, lười ươi, mía, chè, cháo gà, bắp nướng thoa mỡ hành, nước đá bào, hột vịt lộn…v.v. Người ta kể: Hôm nọ, trong một tuồng hát, nghệ sĩ Bảy Nhiêu đóng vai cha, cô Năm Phỉ đóng vai con. Nghệ sĩ Bảy Nhiêu vừa diễn xong một màn thì vào phía sau hậu trường nghỉ xả hơi, ông cởi bộ râu dán keo để trên một cái ghế, ra ngoài sau ăn cháo gà. Cô Năm Phỉ vô ý ngồi lên chiếc ghế đó, bộ râu giả dán keo của nghệ sĩ Bảy Nhiêu dính vào đít cô Năm Phỉ. Tới phiên cô Năm Phỉ ra sân khấu, mang theo bộ râu giả của nghệ sĩ Bảy Nhiêu. Trên sân khấu cô Năm Phỉ đang tới hồi trông ngóng cha về, cô nhìn bên đông, ngó bên tây và gọi: - Cha ơi , cha ! Cha ơi, cha ! Sao cha lâu về quá vậy, cha ? Trong khi đó, nghệ sĩ Bảy Nhiêu đã trở vào hậu trường, tìm mãi mà không thấy bộ râu, nên không làm sao trở ra sân khấu được. Như chợt đoán ra, ông đi đến chỗ cánh gà, nhìn thấy bộ râu dính trên người cô Năm Phỉ, ông gọi nho nhỏ: - Em Năm ơi, em Năm, em xích lại gần đây cho qua gỡ bộ râu ! http://thatsonchaudoc.com/banviet2/DuongVanChung_KC/TruyenNgan/chuyenvuihautruong.htm

CÁI RĂNG CÁI TÓC

Khiêm Cung

Người xưa thường nói cái răng cái tóc là gốc con người. Phải chăng vì răng và tóc là thành phần thường hay thay đổi, gây ảnh hưởng rất lớn lao đến gương mặt mỗi người, nên răng và tóc được xem là quan trọng?

Răng và tóc biến thiên rõ rệt theo sự phát triển thể chất của con người.

Thuở sơ sanh con người không có răng, rồi từ từ răng non, gọi là răng sữa, mọc ra. Năm bảy năm kế tiếp, răng sữa hư rụng.

Nhớ mới ngày nào mình tự nhổ một cái răng sữa hư, thẩy lên mái nhà, “hú mèo hú chuột”, vang vái cho răng mới sớm mọc lên thay chỗ răng hư, bằng không thì bạn bè gọi là thằng sún. Hình ảnh thằng sún ở nhà quê khó coi lắm, ở trần lòi xương sườn, mặc quần đùi, đi chân đất, tóc hớt “ca rê Phật”, mũi dãi thò lò, mặt mày lem luốc, miệng cười chỉ thấy vài cái răng.

“Mèo chuột” chỉ cho răng thay một lần. Răng thay cứng chắc hơn răng sữa bội phần và sử dụng tốt trung bình vài chục năm.

Cũng giống như răng, tóc trẻ sơ sinh gọi là tóc máu. Tóc máu rụng dần, thay bằng tóc khác, tốt và lâu bền hơn. Tóc màu đen, đỏ, bạch kim…v.v. tùy theo sắc dân.

Từ lúc mới sanh ra cho đến trung niên, răng và tóc ở trong thời kỳ tiến hóa, càng ngày càng hoàn chỉnh, đẹp lên, cho đến cái đỉnh cao nhứt của pa-ra-bol cực đại.

Người ta dùng răng để nghiền nát thức ăn, để cắn, dùng tóc để che cái đầu. Ai bị rụng tóc nhiều, gọi là bị hói đầu, lo chạy chữa cho tóc mọc ra thêm. Đặc biệt là răng và tóc còn được dùng để trang sức.

Có dân tộc thiểu số ở Việt Nam “cà răng căng tai”, răng cà sát nướu, trái tai thì xỏ lỗ, rồi nong ra cho lỗ càng ngày càng lớn, lớn chừng nào hay chừng nấy. Người phụ nữ miền Bắc nước mình ngày xưa có tục nhuộm răng “đen và bóng như hạt na” (hột mãng cầu ta), phụ nữ để răng trắng coi như không đứng đắn. Ở miền Nam, có người răng không hư cũng đem bịt vàng, khi cười cả hàm răng vàng rực, mấy đứa trẻ hát ngạo:

Cười lên đi cho răng vàng sáng chói,

Hát lên đi cho răng vàng le lói…

Bây giờ để cho răng không hô, người ta niền răng, giống như bịt bạc, một hai năm mới gỡ niền ra.

Còn tóc thì người Việt mình ngày xưa, nam cũng như nữ, đều để tóc dài bới “xi nhông”.

Chị kia bới tóc đuôi gà,

Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu ?

Nhà tôi ở dưới đám dâu,

Ở trên đám đậu, đầu cầu ngó qua.

Chị nầy khôn quá, trả lời như vậy thì ai mà tìm ra được nhà của chị ?

Chị kia bới tóc kiểng tiên,

Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi.

Chẳng tin giở hộp ra coi,

Rau răm ở dưới cá mòi ở trên.

Ai tóc ngắn phải chấp thêm tóc mượn để bới.

Phụ nữ còn giắt cây lược, cài cây trâm trên tóc, nên người ta nói trâm cài lược giắt.

Phụ nữ trẻ để tóc dài, dùng kẹp kẹp lại thành lọn dài sau lưng, có người không kẹp mà thả cho phủ vai làm mái tóc thề.

Tóc em dài em cài hoa lý,

Miệng em cười để ý anh thương.

Ai cũng cẩn trọng giữ gìn tóc cũng như thân thể vì đó là của cha mẹ tạo ra.

Thân thể phác phu thọ chi phụ mẫu , bất cảm hủy thương…

Thân thể tóc da thọ nhận của cha mẹ, không dám làm cho thương tổn.

Dần dần chạy theo thời đại hoặc vì tiện dụng, phụ nữ cắt ngắn tóc theo kiểu “bom bê” hoặc uốn lọn lớn, lọn nhỏ.

Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
Linh hồn em vội vã vẽ chân dung
Bay vội vã vào trong hồn mở cửa
(Nguyên Sa-Áo lụa Hà Đông)

Đàn ông con trai thì hớt chải “ma-nin”, hớt “cua” (phiên âm tiếng Pháp, có nghĩa là ngắn) hớt ba lát như tân binh ở quân trường, một lát tong-đơ bên phải, một lát bên trái, một lát ở đỉnh đầu là xong. Có khi hớt thật ngắn, gần sát da đầu, gọi theo tiếng lóng là hớt ca-rê Phật.

Xưa kia phụ nữ hay gội đầu bằng nước tro, nước bồ kết, nước bông bưởi, chải tóc bằng dầu dừa, vừa thơm vừa óng mượt, nam giới thì chải bờ-ri-lăng-tin, láng do, ốp sát vào đầu, giống như nghệ sĩ vọng cổ nổi tiếng Út Trà Ôn. Bây giờ thì gội bằng đủ thứ dầu gội, dầu xả, xong rồi thì xấy ép, xịt keo.

Đàn ông hớt tóc khoảng nửa tiếng đồng hồ, còn phụ nữ làm tóc rất lâu, có khi hết cả buổi.. Các tiệm uốn-hớt tóc bày ra đủ kiểu tóc thời trang để hấp dẫn khách hàng.

Thời gian đưa đẩy con người qua khỏi đỉnh pa-ra-bol cực đại, bắt đầu đi xuống rất nhanh, răng long tóc bạc như lời chúc tụng trong lễ cưới. Răng rụng thì mất luôn, không mọc lại cái khác. Do đó phải trồng răng giả. Tóc cũng rụng ngày một nhiều, có người phải đội tóc giả. Đồ thiệt hư hoại, phải xài đồ giả.

Răng hư, tóc bạc biểu hiện tuổi già.

Cuộc đời như chiếc lá dâu
Thời gian nào có khác đâu con tằm
Ngày ngày, tháng tháng, năm năm
Như giòng nước chảy, như tằm ăn dâu
Răng long tóc đã bạc màu
Đời người chỉ một canh thâu đã già.

Sanh, lão, bệnh, tử là con đường tất yếu mà ai cũng phải đi qua. Người viết muốn chúc mọi người khỏe mạnh, an hưởng tuổi già càng lâu càng tốt và làm được việc gì có ích lợi chung lúc cuối đời, nên làm mấy câu thơ trên, dừng lại ở chữ “già”, không nói tiếp đoạn đường còn lại.

Sydney, Tháng 05/2006

http://thatsonchaudoc.com/banviet2/DuongVanChung_KC/TruyenNgan/cairangcaitoc.htm

## CÁI RĂNG CÁI TÓC ### Khiêm Cung Người xưa thường nói cái răng cái tóc là gốc con người. Phải chăng vì răng và tóc là thành phần thường hay thay đổi, gây ảnh hưởng rất lớn lao đến gương mặt mỗi người, nên răng và tóc được xem là quan trọng? Răng và tóc biến thiên rõ rệt theo sự phát triển thể chất của con người. Thuở sơ sanh con người không có răng, rồi từ từ răng non, gọi là răng sữa, mọc ra. Năm bảy năm kế tiếp, răng sữa hư rụng. Nhớ mới ngày nào mình tự nhổ một cái răng sữa hư, thẩy lên mái nhà, “hú mèo hú chuột”, vang vái cho răng mới sớm mọc lên thay chỗ răng hư, bằng không thì bạn bè gọi là thằng sún. Hình ảnh thằng sún ở nhà quê khó coi lắm, ở trần lòi xương sườn, mặc quần đùi, đi chân đất, tóc hớt “ca rê Phật”, mũi dãi thò lò, mặt mày lem luốc, miệng cười chỉ thấy vài cái răng. “Mèo chuột” chỉ cho răng thay một lần. Răng thay cứng chắc hơn răng sữa bội phần và sử dụng tốt trung bình vài chục năm. Cũng giống như răng, tóc trẻ sơ sinh gọi là tóc máu. Tóc máu rụng dần, thay bằng tóc khác, tốt và lâu bền hơn. Tóc màu đen, đỏ, bạch kim…v.v. tùy theo sắc dân. Từ lúc mới sanh ra cho đến trung niên, răng và tóc ở trong thời kỳ tiến hóa, càng ngày càng hoàn chỉnh, đẹp lên, cho đến cái đỉnh cao nhứt của pa-ra-bol cực đại. Người ta dùng răng để nghiền nát thức ăn, để cắn, dùng tóc để che cái đầu. Ai bị rụng tóc nhiều, gọi là bị hói đầu, lo chạy chữa cho tóc mọc ra thêm. Đặc biệt là răng và tóc còn được dùng để trang sức. Có dân tộc thiểu số ở Việt Nam “cà răng căng tai”, răng cà sát nướu, trái tai thì xỏ lỗ, rồi nong ra cho lỗ càng ngày càng lớn, lớn chừng nào hay chừng nấy. Người phụ nữ miền Bắc nước mình ngày xưa có tục nhuộm răng “đen và bóng như hạt na” (hột mãng cầu ta), phụ nữ để răng trắng coi như không đứng đắn. Ở miền Nam, có người răng không hư cũng đem bịt vàng, khi cười cả hàm răng vàng rực, mấy đứa trẻ hát ngạo: _Cười lên đi cho răng vàng sáng chói,_ _ Hát lên đi cho răng vàng le lói…_ Bây giờ để cho răng không hô, người ta niền răng, giống như bịt bạc, một hai năm mới gỡ niền ra. Còn tóc thì người Việt mình ngày xưa, nam cũng như nữ, đều để tóc dài bới “xi nhông”. _Chị kia bới tóc đuôi gà,_ _Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu ?_ _Nhà tôi ở dưới đám dâu,_ _Ở trên đám đậu, đầu cầu ngó qua._ Chị nầy khôn quá, trả lời như vậy thì ai mà tìm ra được nhà của chị ? _Chị kia bới tóc kiểng tiên,_ _Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi._ _Chẳng tin giở hộp ra coi,_ _Rau răm ở dưới cá mòi ở trên._ Ai tóc ngắn phải chấp thêm tóc mượn để bới. Phụ nữ còn giắt cây lược, cài cây trâm trên tóc, nên người ta nói trâm cài lược giắt. Phụ nữ trẻ để tóc dài, dùng kẹp kẹp lại thành lọn dài sau lưng, có người không kẹp mà thả cho phủ vai làm mái tóc thề. _Tóc em dài em cài hoa lý,_ _Miệng em cười để ý anh thương._ Ai cũng cẩn trọng giữ gìn tóc cũng như thân thể vì đó là của cha mẹ tạo ra. _Thân thể phác phu thọ chi phụ mẫu , bất cảm hủy thương…_ Thân thể tóc da thọ nhận của cha mẹ, không dám làm cho thương tổn. Dần dần chạy theo thời đại hoặc vì tiện dụng, phụ nữ cắt ngắn tóc theo kiểu “bom bê” hoặc uốn lọn lớn, lọn nhỏ. _Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn_ _Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh_ _Linh hồn em vội vã vẽ chân dung_ _Bay vội vã vào trong hồn mở cửa_ __(Nguyên Sa-Áo lụa Hà Đông)__ Đàn ông con trai thì hớt chải “ma-nin”, hớt “cua” (phiên âm tiếng Pháp, có nghĩa là ngắn) hớt ba lát như tân binh ở quân trường, một lát tong-đơ bên phải, một lát bên trái, một lát ở đỉnh đầu là xong. Có khi hớt thật ngắn, gần sát da đầu, gọi theo tiếng lóng là hớt ca-rê Phật. Xưa kia phụ nữ hay gội đầu bằng nước tro, nước bồ kết, nước bông bưởi, chải tóc bằng dầu dừa, vừa thơm vừa óng mượt, nam giới thì chải bờ-ri-lăng-tin, láng do, ốp sát vào đầu, giống như nghệ sĩ vọng cổ nổi tiếng Út Trà Ôn. Bây giờ thì gội bằng đủ thứ dầu gội, dầu xả, xong rồi thì xấy ép, xịt keo. Đàn ông hớt tóc khoảng nửa tiếng đồng hồ, còn phụ nữ làm tóc rất lâu, có khi hết cả buổi.. Các tiệm uốn-hớt tóc bày ra đủ kiểu tóc thời trang để hấp dẫn khách hàng. Thời gian đưa đẩy con người qua khỏi đỉnh pa-ra-bol cực đại, bắt đầu đi xuống rất nhanh, răng long tóc bạc như lời chúc tụng trong lễ cưới. Răng rụng thì mất luôn, không mọc lại cái khác. Do đó phải trồng răng giả. Tóc cũng rụng ngày một nhiều, có người phải đội tóc giả. Đồ thiệt hư hoại, phải xài đồ giả. Răng hư, tóc bạc biểu hiện tuổi già. _Cuộc đời như chiếc lá dâu_ _Thời gian nào có khác đâu con tằm_ _Ngày ngày, tháng tháng, năm năm_ _Như giòng nước chảy, như tằm ăn dâu_ _Răng long tóc đã bạc màu_ _Đời người chỉ một canh thâu đã già._ Sanh, lão, bệnh, tử là con đường tất yếu mà ai cũng phải đi qua. Người viết muốn chúc mọi người khỏe mạnh, an hưởng tuổi già càng lâu càng tốt và làm được việc gì có ích lợi chung lúc cuối đời, nên làm mấy câu thơ trên, dừng lại ở chữ “già”, không nói tiếp đoạn đường còn lại. _Sydney, Tháng 05/2006_ http://thatsonchaudoc.com/banviet2/DuongVanChung_KC/TruyenNgan/cairangcaitoc.htm

ĐẶT ĐÂU NGỒI ĐÓ

Khiêm Cung

Ông Hương nay đã trên sáu mươi. Ông bà có hai đứa con, đứa lớn là con trai tên Tuấn, năm nay đã hai mươi tuổi và đứa nhỏ là con gái, tên Tú, mười bảy tuổi. Lúc gia đình Ông đến Úc Đại Lợi định cư, Tuấn lên sáu vào học lớp 1 và Tú lên ba, còn ở nhà quanh quẩn bên mẹ. Dạo đó Tuấn và Tú nói tiếng Việt rất rành rẽ, Tuấn rất yếu tiếng Anh, nhà trường phải cho một cô giáo dạy kèm Anh ngữ cho nó ngoài giờ.

Sau mười bốn năm sống trên quê hương thứ hai nầy, hai đứa trẻ nói tiếng Anh dễ dáng, lưu loát, còn tiếng Việt thì càng ngày càng vấp váp, ngọng nghịu. Phần ông bà Hương, đã học qua nhiều khóa Anh văn miễn phí mà sao vẫn vừa ngọng vừa điếc tiếng Anh. Ở quê nhà ông bà đã từng học Anh ngữ suốt thời gian trung học, nhưng phát âm không đúng từ những năm đầu đã hằng sâu trong trí lâu ngày, không sao sửa được.

Đặt chân đến đất Úc không bao lâu, ông bà Hương bắt đầu lãnh hàng về nhà may.

Một năm sau ông thi đậu sơ tuyển vào ngành bưu điện. Trước hết ông Hương phải qua một khóa huấn nghệ về lựa thư. Suốt ngày ông ngồi trước một cái thùng bằng ván, ngăn thành từng hộc vuông, trên đó có ghi địa danh, trông giống như cái chuồng chim bồ câu. Tay ông cầm một xắp thẻ ghi địa danh và ông xếp thẻ vào đúng ngăn hộc mang địa danh đó. Sau khi đặt hết thẻ vào các hộc, ông kiểm lại thời gian đã lựa so với thời gian định mức. Địa danh ở Úc có lẽ phiên âm từ tiếng thổ dân, nhiều tên khá dài, khó nhớ như Wollongong, Wooloomooloo, Canberra, Rushcutters Bay…Lần nào ông Hương kiểm lại cũng thấy mình bị trễ từ năm đến mười phút. Khóa học chia làm ba giai đoạn. Sau mỗi giai đoạn đều có thi kiểm tra, mỗi khóa có vài người rớt. Phải cố gắng mới đậu được.

Học thì khó nhưng công việc lựa thư thực tế không quá vất vả lắm đâu. Ông Hương làm việc chung với rất nhiều người Việt, trong những ngày đầu tập sự, ông Hương gặp các đồng nghiệp trẻ người Việt. Thấy ông làm việc cần cù, họ nói với ông:

  • Chú ơi ! Ở đây chủ yếu là nghỉ ngơi !

Ông Hương thường làm thêm giờ tới khuya mới về nhà. Lương giờ phụ trội bằng gấp rưỡi hoặc gấp đôi lương ngày thường. Có những đêm đông lạnh buốt, sau giờ tan sở, ông Hương ngồi trên sân ga St Leonard vùng Bắc Sydney đón xe lửa để về Cabramatta ở miền Tây, hơn nửa tiếng đồng hồ mới có một chuyến. Xe chạy cả tiếng đồng hồ mới đến nơi, nên ông có nhiều thời gian để ngủ gà ngủ gật.

Kể từ đó bà Hương tiếp tục may hàng mướn một minh, suốt ngày chân đạp máy, tay kéo vải nghe rồn rột, rồn rột. Bà không có thời gian để nấu cơm, ăn mì gói gần như trường kỳ. Thỉnh thoảng bị hãng may phát hiện may không đúng tiêu chuẩn, bà Hương phải tháo hàng ra để may lại, thật mất công.

Ông bà Hương đều có công ăn việc làm, tiền vào đều đặn, nhưng không có thời gian để nghỉ ngơi hoặc chăm sóc việc học hành của Tuấn và Tú.

Cũng như phần đông những người Việt khác, ông bà Hương rất thương con, không để cho chúng thiếu thốn hay thua kém chúng bạn về vật chất, không cho chúng phải vất vả đi làm thêm như đi bán báo dạo ngoài giờ học để có tiền bỏ túi tiêu xài, ông bà chu cấp tất cả cho con, mong sao chúng có thời gian, dốc tâm vào việc học. Ông bà luôn mong mỏi các con sẽ trở thành những thanh niên, thiếu nữ có tâm hồn và phong cách Việt Nam, Tuấn phải xứng đáng là một “chàng trai nước Việt”, Tú phải là một thục nữ đoan trang. Ông bà Hương còn ước mong sau nầy con cái sẽ lập gia đình với người đồng hương để dễ cảm thông với nhau và khi ông bà có cháu nội, cháu ngoại có thể nựng nịu chúng nó, nói chuyện với chúng nó bằng tiếng Việt. Tiếng Việt dễ hiểu hơn tiếng Anh, dù nói thì thầm cũng nghe được mà ! Ông bà muốn “cha mẹ đặt đâu con cái ngồi đó” như thuở ông bà còn trẻ ở quê nhà. Mặc dầu thời buổi bây giờ có nhiều đổi thay, đối với ông bà Hương, kỷ cương gia đình theo chủ trương của Nho giáo vẫn còn là khuôn vàng thước ngọc.

Ông bà dạy Tuấn, Tú ở nhà phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt, nhưng chúng quen miệng nói chuyện với bạn bè trong lớp cả ngày bằng tiếng Anh, nên anh em cũng trao đổi với nhau bằng tiếng Anh luôn. Ông bà rầy la, bảo phải nói tiếng Việt thì chúng nín luôn, không nói chuyện nữa. Ông bà hỏi tại sao không nói chuyện tiếp bằng tiếng Việt, chúng nó trả lời rằng có những từ không biết diễn tả bằng tiếng Việt như thế nào. Bạn bè của ông bà Hương đến nhà, chúng nó chào xã giao xong rồi trốn biệt, vì e ngại phải tiếp chuyện bằng tiếng Việt. Chúng nó thích chào hỏi “Hello” hơn là khoanh tay cúi đầu “chào ông, chào bà”.

Ở tuổi mười ba, mười bốn, sắp nhỏ bắt đầu “bung”, chúng nó muốn làm theo ý riêng của mình. Nếu cha mẹ không để ý, con cái đi quá đà, không cách chi kéo chúng trở lại được.

Đáng lẽ năm nay Tuấn phải học năm thứ ba, năm học cuối cùng Đại học New South Wales, phân khoa thương mại, nhưng cuối năm thứ hai bị rớt hai môn kế toán và luật công ty, nên không đủ tín chỉ để năm thứ ba ra trường.

Bắt đầu lên đại học, cơ thể Tuấn phát triển rất nhanh, cao ráo, đẹp trai. Mấy đứa con gái thích kết bạn với Tuấn. Tuấn bắt đầu xao lãng việc học. Vậy mà ông bà Hương không hay. Cuối năm rồi, tình cờ ông Hương mở thư của trường đại học báo kết quả thi kết thúc môn mới biết Tuấn học hành kém như vậy.

Hình như hơi muộn màng rồi, Tuấn có một bạn gái người Lào, tên Keo, quen với nhau từ lúc học trung học, bây giờ Keo đã nghỉ học, đi làm nhân viên bán bánh mì. Hai đứa chơi với nhau rất khắn khít. Mỗi lần đến nhà Tuấn chơi, Keo chỉ chào hỏi ông bà Hương lấy lệ, rồi hai đứa vào phòng Tuấn đóng cửa lại, mặc sức mà tâm tình. Ông Hương cằn nhằn với bà:

  • Tụi nó không coi ai ra gì hết. Thật là yêu cuồng,sống vội! Yêu dễ dàng thì bỏ nhau cũng dễ dàng.

Nói thì nói như vậy, chớ ở xứ sở tự do nầy, thanh thiếu niên và trẻ con được luật pháp bảo vệ thật đúng mức. Cha mẹ đánh con sẽ bị cảnh sát bắt, truy tố ra tòa, có thể bị tòa ra án lệnh phải cách xa con mấy trăm thước. Rầy la con cái, chúng sẽ bỏ nhà ra đi, nhà nước có nơi để cho “người không nhà “ tạm trú và cho ăn uống đàng hoàng. Thật là một cách dung dưỡng và khích lệ hư đốn. Nhưng mà nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục, ông bà Hương đành phải tuân theo luật lệ của nước Úc, không dám xử nặng với con cái..

Ông bà Hương cố thuyết phục Tuấn nên xa rời Keo. Ông bà nói người Lào ít khi chịu làm ăn, học hành đến nơi đến chốn, mà thích ăn chơi, làm có được chút ít tiền rồi nghỉ, tiêu pha cho hết số tiền đó, mới đi làm tiếp. Nếp sống và phong tục của họ không giống với người mình, khó ăn đời ở kiếp với nhau lắm.

Tuấn không nghe mà còn nói:

  • Sao ba má kỳ thị quá !

Có lẽ vì buồn, Tuấn phát bệnh, nằm ì trong phòng mấy ngày. Keo đến xin vào thăm, ông bà Hương nói để cho Tuấn nghỉ ngơi, không cho Keo vào. Keo nói Tuấn điện thoại gọi nó đến, rồi nó tự động đi vào phòng của Tuấn. Ông bà Hương lắc đầu, chịu thua.

Thời gian sau, Tuấn cho ông bà Hương biết Keo đã ăn ở với nó có thai. Như sét đánh bên tai, ông bà Hương nhứt định không chấp nhận Keo vào trong gia đình của ông bà.

Vài ngày sau Tuấn đi học rồi không về nhà. Ông bà Hương không tìm ra tông tích của nó, sợ nó buồn quá rồi làm liều, hay là có bị tai nạn gì không. Ông Hương đi báo cho cảnh sát, họ chỉ ghi nhận sự việc chớ chưa có tin tức gì. Ông bà ăn ngủ không yên, riêng bà thì cứ khóc hoài, vì nhớ thương và lo lắng cho Tuấn.

Ông bà Hương chỉ còn hy vọng vào Tú. Không biết Tú có làm cho ông bà thất vọng nữa hay không ? Con bé thường ôm máy vi tính, nói là tìm tài liệu để làm bài, không biết có “chat” tới “chat” lui gì với thằng bạn nào phương xa chưa hề gặp mặt hay không. Tú cũng thường nói điện thoại cả tiếng đồng hồ, làm cho cả nhà không ai sử dụng điện thoại được.

Chuyện của Tuấn xãy ra quá nhanh làm cho ông bà Hương điên đầu. Ông trầm ngâm ít nói, còn bà tỏ ra tiếc rẻ:

  • Phải chi minh dành thời gian chăm sóc con cái nhiều hơn.

  • Phải chi nó thương đâu mình chịu đó…

Bà thở dài nói với ông:

  • Mình mong cho con cái có hạnh phúc, mà hạnh phúc là cái gì nó muốn nó đạt được. Thương con, minh nên chấp nhận tất cả nghe mình.

Ông Hương vẫn trầm ngâm, nhưng trong lòng đã dấy lên bao nhiêu điều đắng cay, chua chát, khi phải mặc nhiên chấp nhận một cuộc đổi đời mà hầu hết mọi người thời nay đã công nhận:

Con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đó !

Sydney, Mùa Xuân 2006

http://thatsonchaudoc.com/banviet2/DuongVanChung_KC/TruyenNgan/TBDATDAUNGOIDO.htm

## ĐẶT ĐÂU NGỒI ĐÓ ### Khiêm Cung Ông Hương nay đã trên sáu mươi. Ông bà có hai đứa con, đứa lớn là con trai tên Tuấn, năm nay đã hai mươi tuổi và đứa nhỏ là con gái, tên Tú, mười bảy tuổi. Lúc gia đình Ông đến Úc Đại Lợi định cư, Tuấn lên sáu vào học lớp 1 và Tú lên ba, còn ở nhà quanh quẩn bên mẹ. Dạo đó Tuấn và Tú nói tiếng Việt rất rành rẽ, Tuấn rất yếu tiếng Anh, nhà trường phải cho một cô giáo dạy kèm Anh ngữ cho nó ngoài giờ. Sau mười bốn năm sống trên quê hương thứ hai nầy, hai đứa trẻ nói tiếng Anh dễ dáng, lưu loát, còn tiếng Việt thì càng ngày càng vấp váp, ngọng nghịu. Phần ông bà Hương, đã học qua nhiều khóa Anh văn miễn phí mà sao vẫn vừa ngọng vừa điếc tiếng Anh. Ở quê nhà ông bà đã từng học Anh ngữ suốt thời gian trung học, nhưng phát âm không đúng từ những năm đầu đã hằng sâu trong trí lâu ngày, không sao sửa được. Đặt chân đến đất Úc không bao lâu, ông bà Hương bắt đầu lãnh hàng về nhà may. Một năm sau ông thi đậu sơ tuyển vào ngành bưu điện. Trước hết ông Hương phải qua một khóa huấn nghệ về lựa thư. Suốt ngày ông ngồi trước một cái thùng bằng ván, ngăn thành từng hộc vuông, trên đó có ghi địa danh, trông giống như cái chuồng chim bồ câu. Tay ông cầm một xắp thẻ ghi địa danh và ông xếp thẻ vào đúng ngăn hộc mang địa danh đó. Sau khi đặt hết thẻ vào các hộc, ông kiểm lại thời gian đã lựa so với thời gian định mức. Địa danh ở Úc có lẽ phiên âm từ tiếng thổ dân, nhiều tên khá dài, khó nhớ như Wollongong, Wooloomooloo, Canberra, Rushcutters Bay…Lần nào ông Hương kiểm lại cũng thấy mình bị trễ từ năm đến mười phút. Khóa học chia làm ba giai đoạn. Sau mỗi giai đoạn đều có thi kiểm tra, mỗi khóa có vài người rớt. Phải cố gắng mới đậu được. Học thì khó nhưng công việc lựa thư thực tế không quá vất vả lắm đâu. Ông Hương làm việc chung với rất nhiều người Việt, trong những ngày đầu tập sự, ông Hương gặp các đồng nghiệp trẻ người Việt. Thấy ông làm việc cần cù, họ nói với ông: - Chú ơi ! Ở đây chủ yếu là nghỉ ngơi ! Ông Hương thường làm thêm giờ tới khuya mới về nhà. Lương giờ phụ trội bằng gấp rưỡi hoặc gấp đôi lương ngày thường. Có những đêm đông lạnh buốt, sau giờ tan sở, ông Hương ngồi trên sân ga St Leonard vùng Bắc Sydney đón xe lửa để về Cabramatta ở miền Tây, hơn nửa tiếng đồng hồ mới có một chuyến. Xe chạy cả tiếng đồng hồ mới đến nơi, nên ông có nhiều thời gian để ngủ gà ngủ gật. Kể từ đó bà Hương tiếp tục may hàng mướn một minh, suốt ngày chân đạp máy, tay kéo vải nghe rồn rột, rồn rột. Bà không có thời gian để nấu cơm, ăn mì gói gần như trường kỳ. Thỉnh thoảng bị hãng may phát hiện may không đúng tiêu chuẩn, bà Hương phải tháo hàng ra để may lại, thật mất công. Ông bà Hương đều có công ăn việc làm, tiền vào đều đặn, nhưng không có thời gian để nghỉ ngơi hoặc chăm sóc việc học hành của Tuấn và Tú. Cũng như phần đông những người Việt khác, ông bà Hương rất thương con, không để cho chúng thiếu thốn hay thua kém chúng bạn về vật chất, không cho chúng phải vất vả đi làm thêm như đi bán báo dạo ngoài giờ học để có tiền bỏ túi tiêu xài, ông bà chu cấp tất cả cho con, mong sao chúng có thời gian, dốc tâm vào việc học. Ông bà luôn mong mỏi các con sẽ trở thành những thanh niên, thiếu nữ có tâm hồn và phong cách Việt Nam, Tuấn phải xứng đáng là một “chàng trai nước Việt”, Tú phải là một thục nữ đoan trang. Ông bà Hương còn ước mong sau nầy con cái sẽ lập gia đình với người đồng hương để dễ cảm thông với nhau và khi ông bà có cháu nội, cháu ngoại có thể nựng nịu chúng nó, nói chuyện với chúng nó bằng tiếng Việt. Tiếng Việt dễ hiểu hơn tiếng Anh, dù nói thì thầm cũng nghe được mà ! Ông bà muốn “cha mẹ đặt đâu con cái ngồi đó” như thuở ông bà còn trẻ ở quê nhà. Mặc dầu thời buổi bây giờ có nhiều đổi thay, đối với ông bà Hương, kỷ cương gia đình theo chủ trương của Nho giáo vẫn còn là khuôn vàng thước ngọc. Ông bà dạy Tuấn, Tú ở nhà phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt, nhưng chúng quen miệng nói chuyện với bạn bè trong lớp cả ngày bằng tiếng Anh, nên anh em cũng trao đổi với nhau bằng tiếng Anh luôn. Ông bà rầy la, bảo phải nói tiếng Việt thì chúng nín luôn, không nói chuyện nữa. Ông bà hỏi tại sao không nói chuyện tiếp bằng tiếng Việt, chúng nó trả lời rằng có những từ không biết diễn tả bằng tiếng Việt như thế nào. Bạn bè của ông bà Hương đến nhà, chúng nó chào xã giao xong rồi trốn biệt, vì e ngại phải tiếp chuyện bằng tiếng Việt. Chúng nó thích chào hỏi “Hello” hơn là khoanh tay cúi đầu “chào ông, chào bà”. Ở tuổi mười ba, mười bốn, sắp nhỏ bắt đầu “bung”, chúng nó muốn làm theo ý riêng của mình. Nếu cha mẹ không để ý, con cái đi quá đà, không cách chi kéo chúng trở lại được. Đáng lẽ năm nay Tuấn phải học năm thứ ba, năm học cuối cùng Đại học New South Wales, phân khoa thương mại, nhưng cuối năm thứ hai bị rớt hai môn kế toán và luật công ty, nên không đủ tín chỉ để năm thứ ba ra trường. Bắt đầu lên đại học, cơ thể Tuấn phát triển rất nhanh, cao ráo, đẹp trai. Mấy đứa con gái thích kết bạn với Tuấn. Tuấn bắt đầu xao lãng việc học. Vậy mà ông bà Hương không hay. Cuối năm rồi, tình cờ ông Hương mở thư của trường đại học báo kết quả thi kết thúc môn mới biết Tuấn học hành kém như vậy. Hình như hơi muộn màng rồi, Tuấn có một bạn gái người Lào, tên Keo, quen với nhau từ lúc học trung học, bây giờ Keo đã nghỉ học, đi làm nhân viên bán bánh mì. Hai đứa chơi với nhau rất khắn khít. Mỗi lần đến nhà Tuấn chơi, Keo chỉ chào hỏi ông bà Hương lấy lệ, rồi hai đứa vào phòng Tuấn đóng cửa lại, mặc sức mà tâm tình. Ông Hương cằn nhằn với bà: - Tụi nó không coi ai ra gì hết. Thật là yêu cuồng,sống vội! Yêu dễ dàng thì bỏ nhau cũng dễ dàng. Nói thì nói như vậy, chớ ở xứ sở tự do nầy, thanh thiếu niên và trẻ con được luật pháp bảo vệ thật đúng mức. Cha mẹ đánh con sẽ bị cảnh sát bắt, truy tố ra tòa, có thể bị tòa ra án lệnh phải cách xa con mấy trăm thước. Rầy la con cái, chúng sẽ bỏ nhà ra đi, nhà nước có nơi để cho “người không nhà “ tạm trú và cho ăn uống đàng hoàng. Thật là một cách dung dưỡng và khích lệ hư đốn. Nhưng mà nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục, ông bà Hương đành phải tuân theo luật lệ của nước Úc, không dám xử nặng với con cái.. Ông bà Hương cố thuyết phục Tuấn nên xa rời Keo. Ông bà nói người Lào ít khi chịu làm ăn, học hành đến nơi đến chốn, mà thích ăn chơi, làm có được chút ít tiền rồi nghỉ, tiêu pha cho hết số tiền đó, mới đi làm tiếp. Nếp sống và phong tục của họ không giống với người mình, khó ăn đời ở kiếp với nhau lắm. Tuấn không nghe mà còn nói: - Sao ba má kỳ thị quá ! Có lẽ vì buồn, Tuấn phát bệnh, nằm ì trong phòng mấy ngày. Keo đến xin vào thăm, ông bà Hương nói để cho Tuấn nghỉ ngơi, không cho Keo vào. Keo nói Tuấn điện thoại gọi nó đến, rồi nó tự động đi vào phòng của Tuấn. Ông bà Hương lắc đầu, chịu thua. Thời gian sau, Tuấn cho ông bà Hương biết Keo đã ăn ở với nó có thai. Như sét đánh bên tai, ông bà Hương nhứt định không chấp nhận Keo vào trong gia đình của ông bà. Vài ngày sau Tuấn đi học rồi không về nhà. Ông bà Hương không tìm ra tông tích của nó, sợ nó buồn quá rồi làm liều, hay là có bị tai nạn gì không. Ông Hương đi báo cho cảnh sát, họ chỉ ghi nhận sự việc chớ chưa có tin tức gì. Ông bà ăn ngủ không yên, riêng bà thì cứ khóc hoài, vì nhớ thương và lo lắng cho Tuấn. Ông bà Hương chỉ còn hy vọng vào Tú. Không biết Tú có làm cho ông bà thất vọng nữa hay không ? Con bé thường ôm máy vi tính, nói là tìm tài liệu để làm bài, không biết có “chat” tới “chat” lui gì với thằng bạn nào phương xa chưa hề gặp mặt hay không. Tú cũng thường nói điện thoại cả tiếng đồng hồ, làm cho cả nhà không ai sử dụng điện thoại được. Chuyện của Tuấn xãy ra quá nhanh làm cho ông bà Hương điên đầu. Ông trầm ngâm ít nói, còn bà tỏ ra tiếc rẻ: - Phải chi minh dành thời gian chăm sóc con cái nhiều hơn. - Phải chi nó thương đâu mình chịu đó… Bà thở dài nói với ông: - Mình mong cho con cái có hạnh phúc, mà hạnh phúc là cái gì nó muốn nó đạt được. Thương con, minh nên chấp nhận tất cả nghe mình. Ông Hương vẫn trầm ngâm, nhưng trong lòng đã dấy lên bao nhiêu điều đắng cay, chua chát, khi phải mặc nhiên chấp nhận một cuộc đổi đời mà hầu hết mọi người thời nay đã công nhận: _Con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đó !_ __Sydney, Mùa Xuân 2006__ http://thatsonchaudoc.com/banviet2/DuongVanChung_KC/TruyenNgan/TBDATDAUNGOIDO.htm

LỄ BÁI SƯ

Khiêm Cung

Giữa mùa hè nắng cháy, tôi khấp khểnh leo lên một cái dốc, cao cở dốc 47 ở Long Thành giữa đường đi Vũng Tàu, mồ hôi nhễ nhại. Một người khách bộ hành đi cùng chiều, vừa vượt qua mặt tôi vừa hỏi:

  • Khỏe không?

Tôi vội đáp câu tương tựa như mấy bà cụ leo núi mệt gần đứt hơi:

  • K...h…ỏ…e…

Chợt nhìn lên đỉnh dốc tôi thấy có một ngôi nhà nho nhỏ, vách bằng đá, trông giống như thạch động ở Hà Tiên. Phía trước nhà có treo một cái bảng ghi Thư Trung Tàng Thư Các..

Mừng quá, tôi đi nhanh vào trong, thấy thật nhiều sách đóng bìa da in chữ mạ vàng, tác giả là Thư Trung. Tôi nhẹ nhàng mở quyển Thư Trung Đại Từ Điển để tìm một nghề gọi là Nghề hạ bạc.

Từ điển giải thích rất cặn kẽ đó là nghề cá mắm mà người đời thường cho là nghề thấp kém, ác nhơn và hậu vận của người làm nghề đó không khá. Từ điển còn nói rộng thêm về một vị thần dưới nước là “Hà Bá” và con cá sấu “Ông Năm Chèo”.

Đang thích thú xem tự điển thì có tiếng động phía sau lưng, tôi quay lại nhìn, thấy một người đàn ông cao ráo, phương phi, ăn mặc đơn giản, đi dép Nhựt, mặc bộ đồ bà ba đen, cổ quấn khăn choàng tắm sọc, bên cạnh là một phụ nữ quá nửa chừng xuân, dáng người thanh nhã, mặc áo dài màu nâu với chiếc khăn choàng hầu màu vàng lợt có điểm bông trắng, chân đi hài thêu cườm. Tôi vội hỏi:

  • Có phải tiên sinh là Ngài Thư Trung không?

  • Dạ phải.

  • Quý hóa thay! Đã từng nghe danh tiên sinh, nay mới được diện kiến. Xin để tôi đi mua rượu làm lễ bái sư để học hỏi.

  • Không cần khách sáo! Không cần rượu.

  • Vậy xin để mua trà.

  • Không cần trà.

  • Vậy món chi cho phải lễ?

  • Một miếng trầu làm đầu câu chuyện là được rồi.

Tôi ngờ ngợ như nhớ ra điều gì, bèn hỏi:

  • Xin lỗi, tiên sinh thứ mấy?

  • Thứ hai.

  • Vậy có phải tiên sinh là Hai Trầu không?

  • Đúng rồi! Ông là ai mà biết tôi?

  • Tôi là Chung An Phú.

  • Ồ! Anh Chung. Té ra là bạn. Sao mà đa lễ quá?

  • Vậy thì mời anh chị lúc nào rảnh từ Kinh Xáng Bốn Tổng về Kinh Thầy Ban chơi để có dịp hàn huyên tâm sự, tôi cũng có dịp học hỏi với anh. Tôi sẽ đãi anh chị món chuột đồng rô ti và mấm kho và bông điên điển. Sau đó, tôi sẽ lấy tác ráng đưa anh chị qua Kinh Cũ ở Châu Phong thăm vợ chồng Đoàn Đông, Lộc Tưởng. Lộc Tưởng nấu cà ri dê ngon tuyệt vời đó anh chị. Rồi mình đi qua chợ Châu Đốc, lên xe đò Tân Thành chạy cà rịch cà tang vô Xà Tón thăm Lưu Nhơn Nghĩa. Nghe nói lúc nầy Thầy Nghĩa đã nghỉ hưu, không còn gõ đầu trẻ nữa. Chắc Nghĩa sẽ cho mình đi ăn bún nước lèo và xem vũ là khol. Anh chị Hai đừng từ chối nhé!

Sydney, tháng 01/2007

http://thatsonchaudoc.com/banviet2/DuongVanChung_KC/TruyenNgan/LeBaiSu.htm

# LỄ BÁI SƯ ### Khiêm Cung Giữa mùa hè nắng cháy, tôi khấp khểnh leo lên một cái dốc, cao cở dốc 47 ở Long Thành giữa đường đi Vũng Tàu, mồ hôi nhễ nhại. Một người khách bộ hành đi cùng chiều, vừa vượt qua mặt tôi vừa hỏi: - Khỏe không? Tôi vội đáp câu tương tựa như mấy bà cụ leo núi mệt gần đứt hơi: - K...h…ỏ…e… Chợt nhìn lên đỉnh dốc tôi thấy có một ngôi nhà nho nhỏ, vách bằng đá, trông giống như thạch động ở Hà Tiên. Phía trước nhà có treo một cái bảng ghi Thư Trung Tàng Thư Các.. Mừng quá, tôi đi nhanh vào trong, thấy thật nhiều sách đóng bìa da in chữ mạ vàng, tác giả là Thư Trung. Tôi nhẹ nhàng mở quyển Thư Trung Đại Từ Điển để tìm một nghề gọi là Nghề hạ bạc. Từ điển giải thích rất cặn kẽ đó là nghề cá mắm mà người đời thường cho là nghề thấp kém, ác nhơn và hậu vận của người làm nghề đó không khá. Từ điển còn nói rộng thêm về một vị thần dưới nước là “Hà Bá” và con cá sấu “Ông Năm Chèo”. Đang thích thú xem tự điển thì có tiếng động phía sau lưng, tôi quay lại nhìn, thấy một người đàn ông cao ráo, phương phi, ăn mặc đơn giản, đi dép Nhựt, mặc bộ đồ bà ba đen, cổ quấn khăn choàng tắm sọc, bên cạnh là một phụ nữ quá nửa chừng xuân, dáng người thanh nhã, mặc áo dài màu nâu với chiếc khăn choàng hầu màu vàng lợt có điểm bông trắng, chân đi hài thêu cườm. Tôi vội hỏi: - Có phải tiên sinh là Ngài Thư Trung không? - Dạ phải. - Quý hóa thay! Đã từng nghe danh tiên sinh, nay mới được diện kiến. Xin để tôi đi mua rượu làm lễ bái sư để học hỏi. - Không cần khách sáo! Không cần rượu. - Vậy xin để mua trà. - Không cần trà. - Vậy món chi cho phải lễ? - Một miếng trầu làm đầu câu chuyện là được rồi. Tôi ngờ ngợ như nhớ ra điều gì, bèn hỏi: - Xin lỗi, tiên sinh thứ mấy? - Thứ hai. - Vậy có phải tiên sinh là Hai Trầu không? - Đúng rồi! Ông là ai mà biết tôi? - Tôi là Chung An Phú. - Ồ! Anh Chung. Té ra là bạn. Sao mà đa lễ quá? - Vậy thì mời anh chị lúc nào rảnh từ Kinh Xáng Bốn Tổng về Kinh Thầy Ban chơi để có dịp hàn huyên tâm sự, tôi cũng có dịp học hỏi với anh. Tôi sẽ đãi anh chị món chuột đồng rô ti và mấm kho và bông điên điển. Sau đó, tôi sẽ lấy tác ráng đưa anh chị qua Kinh Cũ ở Châu Phong thăm vợ chồng Đoàn Đông, Lộc Tưởng. Lộc Tưởng nấu cà ri dê ngon tuyệt vời đó anh chị. Rồi mình đi qua chợ Châu Đốc, lên xe đò Tân Thành chạy cà rịch cà tang vô Xà Tón thăm Lưu Nhơn Nghĩa. Nghe nói lúc nầy Thầy Nghĩa đã nghỉ hưu, không còn gõ đầu trẻ nữa. Chắc Nghĩa sẽ cho mình đi ăn bún nước lèo và xem vũ là khol. Anh chị Hai đừng từ chối nhé! #### Sydney, tháng 01/2007 http://thatsonchaudoc.com/banviet2/DuongVanChung_KC/TruyenNgan/LeBaiSu.htm

DUY NGÃ ĐỘC TÔN

Khiêm Cung sưu tầm

Trong lễ Mộc Dục, nói nôm na là lễ Tắm Phật, chúng ta thấy chùa đặt một tượng Phật Thích Ca sơ sanh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, đứng trong một cái chậu nước rắc đầy hoa. Phật tử xếp thành hàng một, lần lượt tiến lên, vừa tụng kinh vừa múc nước tưới lên tượng Phật. Ngài đã nói gì khi một tay chỉ trời, một tay chỉ đất ?

Theo Kinh A Hàm, khi đản sanh, Đức Phật đã nói một bài kệ bốn câu như sau:

Thiên thượng thiên hạ

Duy ngã độc tôn

Nhất thiết thế gian

Sinh lão bệnh tử

Trên trời dưới đất

Chỉ ta tôn nhất

Tất cả thế gian

Sanh già bệnh chết

Có người hiểu rằng chữ “ngã” là tôi, ta hay mình ám chỉ Đức Phật, chỉ có Đức Phật là bậc đáng được tôn sùng nhất, vì Ngài đã thoát vòng luân hồi sanh tử, còn tất cả thế gian vẫn còn bị sanh già bệnh chết khống chế. Khi nói duy ngã độc tôn không có nghĩa là người quá tự phụ. Ngài muốn nói đến cái ngã ở một từng cấp siêu vượt hơn.

Giáo lý phân biệt bản ngã hay vọng ngã với chơn ngã.

Phàm phu và ngoại đạo cho rằng ngã là chúa tể của cái thân, nó là thường trụ, trường tồn, cho nên sinh ra mê chấp, yêu mến thân mình và cái gì thuộc về mình, bênh vực cho ý tưởng của mình. Đó là ngã chấp. Thật ra đó là bản ngã hay vọng ngã, thân nầy chỉ là ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) giả hợp. Có duyên thì tụ, hết duyên thì tan, ở phía sau năm uẩn không tìm thấy có một thực thể nào gọi là « tôi »,« ta » hay ngã trường tồn bất biến.

Theo Phật giáo thì không có gì trong thế gian là tuyệt đối,mọi sự vật (pháp) đều giới hạn, tương đối và phụ thuộc lẫn nhau. Đó là nguyên tắc của luật Duyên khởi hay Duyên sinh theo một công thức gồm có 4 dòng :

Cái này có thì cái kia có,

Cái này sanh thì cái kia sanh,

Cái này không có thì cái kia không có,

Cái này diệt thì cái kia diệt.

Toàn thể sự sanh tồn và tiếp tục sanh tử hay chấm dứt sanh tử đều được giải thích theo một chu trình gọi là Duyên khởi gồm 12 yếu tố :

Vô minh duyên (sanh ra) hành (những hoạt động do ý muốn và những tạo tác của nghiệp) ;
Hành duyên thức (sự hiểu biết, phân biệt đối với cảnh);
Thức duyên danh sắc(những hiện tượng tâm lý và vật lý);
Danh sắc duyên lục nhập ( 5 giác quan và ý thức };
Lục nhập duyên xúc (đụng chạm, tiếp xúc);
Xúc duyên thọ (cảm giác);
Thọ duyên ái (khao khát, ham muốn);
Ái duyên thủ (bám víu, giữ lấy);
Thủ duyên hữu (sinh ra và trở thành);
Hữu duyên sinh (sự sống, sanh ra);
Sinh duyên 12. Lão (già), tử (chết), ưu bi khổ não (buồn lo đau đớn).
( Nhân quả chuyển lưu)

12 nh ân duyên như là một chuõi dây xích, nếu một nhân duyên không sanh thì những nhân duyên khác không sanh. Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt…v.v. cho đến khi sanh, lão, tử, ưu bi khổ não diệt (Đây là nhân quả hoàn diệt).

Vọng ngã cũng thường thay đổi vì duyên theo sáu trần. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đòi hỏi chúng ta phải cung phụng đầy đủ, sắc là thức ăn của mắt, âm thanh là thức ăn của tai, mùi là thức ăn của mũi, vị là thức ăn của lưỡi…Chạy đi tìm bóng sắc để thỏa mãn đôi mắt, tìm âm thanh trầm bổng để thỏa mãn đôi tai, mùi thơm tho để thỏa mãn mũi, vị cay đắng hay ngọt ngào để thỏa mãn lưỡi…Ý phân biệt thứ nầy đẹp thứ kia xấu, món nầy ngon, món kia dở. Phân biệt rồi đi đến chọn lựa, ham muốn, chiếm hữu, không được như ý thì sanh ra phiền não, khiến con người lanh quanh trong vòng sanh tử luân hồi.

Vua Trần Thái Tông là một vị vua chơn tu, đã đặt ra nghi thức Sám Hối Sáu Căn, nói lên những điều sai trái mà sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý gây ra. Bài sám hối nầy rất thiết thực, xét lỗi đã qua của 6 căn để ngăn ngừa lỗi sẽ tới, cái bản ngã của mỗi con người nhờ vậy bớt vọng động, rồi dần dần tan biến.

Đức Phật Thích Ca qua các kinh Kim Cang, Lăng Nghiêm và nhiều kinh khác đã phá chấp, dạy mọi người không chấp ngã, không chấp nhơn hay chúng sanh thọ giả. Phật dạy vô ngã, vô ngã sở, ta không có thật, cái gì của ta cũng không có thật. Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, trong bài pháp « Vô Ngã Là Niết Bàn » có nói niết bàn ở trước mặt, khi không còn phân biệt ta và người khác là đã đạt đến niết bàn rồi.

« Niết bàn chính là từ bỏ ba độc tham, sân, si do ngã chấp gây nên. Vô ngã là niết bàn. Giờ phút nào cởi bỏ được ba độc, giờ phút đó là niết bàn. Cho nên chúng ta thấy niết bàn vừa là cái chung, vừa là cái riêng. Cái chung là ai cũng tu được vào được. Cái riêng là ai tu người ấy đắc. Đức Phật không bưng Niết bàn đến cho ta ngồi lên. Ngài chỉ dạy cho chúng ta con đường tu chứng Niết bàn mà thôi. Ngài dạy : « Ai còn tham luyến (tức còn ngã ái chấp đây là của tôi, ngã mạn chấp đây là tôi, ngã kiến chấp đây là tự ngã của tôi), thời có dao động. Ai không tham luyến thời không dao động. Ai không dao động thời được khinh an. Ai được khinh an thời không thiên chấp (nati). Ai không thiên chấp thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh thời không có đời này đời sau, không có giữa hai đời. Đây là sự đoạn tận khổ đau ».(Niết bàn-Tương Ưng Bộ Kinh 4/65.1982) »

Khi hàng thanh văn đã đắc lý vô ngã thì tu lên Đại thừa, tu tập cái ngã của Phật, Bồ Tát. Đó là đại ngã, chơn ngã mà trong bài kệ trên, Đức Phật coi như độc tôn, đặc biệt thoát ra ngoài sanh, lão, bệnh, tử.

Chơn ngã còn gọi là chơn tâm và còn nhiều tên khác, tùy theo kinh : « … Phật dạy trong Bồ Tát Giới gọi là Tâm Địa, vì hay phát sanh muôn việc thiện. Kinh Bát Nhã gọi là Bồ Đề, vì lấy giác làm thể. Kinh Hoa Nghiêm gọi là Pháp Giới, vì giao triệt và dung nhiếp. Kinh Kim Cang gọi là Như Lai, vì không từ đâu đến. Kinh Bát Nhã gọi là Niết Bàn, vì là chỗ qui hướng của chư Thánh. Kinh Kim Quang Minh gọi là Như Như, vì chơn thường bất biến. Kinh tịnh danh gọi là Pháp Thân, vì là chỗ nương của báo thân và hóa thân. Luận khởi tín gọi là Chơn Như, vì chẳng sanh chẳng diệt. Kinh Niết Bàn gọi là Phật Tánh, vì là bản thể của ba thân. Kinh Viên Giác gọi là Tổng Trì, vì mọi công đức từ đó mà lưu xuất. Kinh Thắng Mang gọi là Như Lai Tạng, vì ẩn phú va hàm nhiếp. Kinh Liễu Nghĩa gọi là Viên Giác, vì hay chiếu phá mờ tối ».(Chơn Tâm Trực Thuyết-Thiền Sư Phổ Chiếu soạn, Thiền Sư Thích Thanh Từ giảng)

Ai cũng có chơn ngã, tức là có phật tánh, nhưng từ trước đến nay, bị vô minh, phiền não che khuất, cho nên không thấy được. Chơn ngã có đủ bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh. Tinh tấn tu hành sẽ được sáng suốt, giác ngộ hoàn toàn, chơn ngã hay Phật tánh hiển lộ, tức là thành Phật. Cho nên Đức Phật có giảng trong kinh Phạm Võng rằng :

  • Các ngươi là Phật sẽ thành, còn ta là Phật đã thành.

Phật và chúng sanh chỉ cách nhau một bờ giác, nhưng muốn đến bờ giác đó không phải dễ dàng lắm đâu, có mấy ai tu nhứt kiếp ngộ nhứt thời. Đức Phật Thích Ca đã trãi qua nhiều kiếp tu hành hay chỉ mới tu và ngồi nhập định trong 49 ngày đêm dưới cội bồ đề rồi thành Phật ? Nhưng nếu ngại đường dài mà không đi thì làm sao đến, chuông không đánh làm sao kêu (lộ bất hành bất đáo, chung bất đả bất minh) ? Tu nhiều thì giác nhiều, tu ít thì giác ít. Dù sao công phu tu hành cũng giúp chúng ta hiểu biết hơn, sáng suốt hơn.

Để tìm chơn ngã hay chơn tâm, Phật tánh, thầy tổ thường dạy tu theo Giới, Định, Huệ.

Giới là những qui định để người tu hành nói chung phải tuân theo, thường là những điều cấm kỵ, không được làm. Giới luật đặt ra là vì lợi ích cho bản thân người tu hành cũng như cho những người khác, như một trong năm giới cho người tu tại gia, qui y tam bảo là không được tà dâm để bảo tồn hạnh phúc gia đình của chính người đã qui y và những đối tượng có liên quan. Giữ giới hạnh còn giúp cho thân tâm được thanh tịnh.

Định là để tâm quán sát, chuyên chú vào một sự việc, không lăng xăng chạy theo vọng niệm. Pháp môn tu thiền (tọa thiền) cũng như pháp môn tịnh độ (niệm danh hiệu Phật nhất tâm bất loạn) đều là cách buộc tâm cho định.

Còn huệ, theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn, là cái đức dụng sáng suốt, thông hiểu sự và lý, dứt điều lầm lạc và mê muội, có lòng quyết định, diệt hết sở nghi. Có định mới có huệ.

Thầy tổ cũng có lời khuyên phải biết buông xả, không chấp trước. Không nhìn ra ngoài, tránh chuyện thị phi, sanh tâm phân biệt, mà phải nhìn vào trong để sám hối về những điều sai trái của mình và tu theo tam huệ :

  • Văn huệ : Tụng kinh và nghe kinh hoặc nghe lời thầy bạn mà phát huệ ;

  • Tư huệ : nhờ quán chiếu mà phát huệ ;

  • Tu huệ : nhờ tu thiền định mà phát huệ.

Tóm lại, trên mặt tương đối, người ta phân biệt có hai cái ngã: một cái nên chừa là bản ngã hay vọng ngã ; còn một cái là chơn ngã phải nên phát huy, bằng con đường tu đạo, con đường đạt quả vị giác ngộ vô thượng.

Tài liệu tham khảo :

  • Vô Ngã Là Niết Bàn - Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
  • Chơn Tâm Trực Thuyết - Thiền Sư Phổ Chiếu soạn, Thiền Sư Thích Thanh Từ giảng
  • Thông Điệp Đức Phật Ra Đời - Thượng Tọa Thích Thông Phương
  • Con Đường Thoát Khổ - Ni Sư Thích Trí Hải
  • Từ Điển Phật Học - Đoàn Trung Còn

http://thatsonchaudoc.com/banviet2/DuongVanChung_KC/TruyenNgan/GN_DuyNgaDocTon.htm

### DUY NGÃ ĐỘC TÔN #### Khiêm Cung sưu tầm Trong lễ Mộc Dục, nói nôm na là lễ Tắm Phật, chúng ta thấy chùa đặt một tượng Phật Thích Ca sơ sanh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, đứng trong một cái chậu nước rắc đầy hoa. Phật tử xếp thành hàng một, lần lượt tiến lên, vừa tụng kinh vừa múc nước tưới lên tượng Phật. Ngài đã nói gì khi một tay chỉ trời, một tay chỉ đất ? Theo Kinh A Hàm, khi đản sanh, Đức Phật đã nói một bài kệ bốn câu như sau: _Thiên thượng thiên hạ_ Duy ngã độc tôn Nhất thiết thế gian Sinh lão bệnh tử Trên trời dưới đất Chỉ ta tôn nhất Tất cả thế gian Sanh già bệnh chết Có người hiểu rằng chữ “ngã” là tôi, ta hay mình ám chỉ Đức Phật, chỉ có Đức Phật là bậc đáng được tôn sùng nhất, vì Ngài đã thoát vòng luân hồi sanh tử, còn tất cả thế gian vẫn còn bị sanh già bệnh chết khống chế. Khi nói duy ngã độc tôn không có nghĩa là người quá tự phụ. Ngài muốn nói đến cái ngã ở một từng cấp siêu vượt hơn. Giáo lý phân biệt bản ngã hay vọng ngã với chơn ngã. Phàm phu và ngoại đạo cho rằng ngã là chúa tể của cái thân, nó là thường trụ, trường tồn, cho nên sinh ra mê chấp, yêu mến thân mình và cái gì thuộc về mình, bênh vực cho ý tưởng của mình. Đó là ngã chấp. Thật ra đó là bản ngã hay vọng ngã, thân nầy chỉ là ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) giả hợp. Có duyên thì tụ, hết duyên thì tan, ở phía sau năm uẩn không tìm thấy có một thực thể nào gọi là « tôi »,« ta » hay ngã trường tồn bất biến. Theo Phật giáo thì không có gì trong thế gian là tuyệt đối,mọi sự vật (pháp) đều giới hạn, tương đối và phụ thuộc lẫn nhau. Đó là nguyên tắc của luật Duyên khởi hay Duyên sinh theo một công thức gồm có 4 dòng : Cái này có thì cái kia có, Cái này sanh thì cái kia sanh, Cái này không có thì cái kia không có, Cái này diệt thì cái kia diệt. Toàn thể sự sanh tồn và tiếp tục sanh tử hay chấm dứt sanh tử đều được giải thích theo một chu trình gọi là Duyên khởi gồm 12 yếu tố : Vô minh duyên (sanh ra) hành (những hoạt động do ý muốn và những tạo tác của nghiệp) ; Hành duyên thức (sự hiểu biết, phân biệt đối với cảnh); Thức duyên danh sắc(những hiện tượng tâm lý và vật lý); Danh sắc duyên lục nhập ( 5 giác quan và ý thức }; Lục nhập duyên xúc (đụng chạm, tiếp xúc); Xúc duyên thọ (cảm giác); Thọ duyên ái (khao khát, ham muốn); Ái duyên thủ (bám víu, giữ lấy); Thủ duyên hữu (sinh ra và trở thành); Hữu duyên sinh (sự sống, sanh ra); Sinh duyên 12. Lão (già), tử (chết), ưu bi khổ não (buồn lo đau đớn). ( Nhân quả chuyển lưu) 12 nh ân duyên như là một chuõi dây xích, nếu một nhân duyên không sanh thì những nhân duyên khác không sanh. Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt…v.v. cho đến khi sanh, lão, tử, ưu bi khổ não diệt (Đây là nhân quả hoàn diệt). Vọng ngã cũng thường thay đổi vì duyên theo sáu trần. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đòi hỏi chúng ta phải cung phụng đầy đủ, sắc là thức ăn của mắt, âm thanh là thức ăn của tai, mùi là thức ăn của mũi, vị là thức ăn của lưỡi…Chạy đi tìm bóng sắc để thỏa mãn đôi mắt, tìm âm thanh trầm bổng để thỏa mãn đôi tai, mùi thơm tho để thỏa mãn mũi, vị cay đắng hay ngọt ngào để thỏa mãn lưỡi…Ý phân biệt thứ nầy đẹp thứ kia xấu, món nầy ngon, món kia dở. Phân biệt rồi đi đến chọn lựa, ham muốn, chiếm hữu, không được như ý thì sanh ra phiền não, khiến con người lanh quanh trong vòng sanh tử luân hồi. Vua Trần Thái Tông là một vị vua chơn tu, đã đặt ra nghi thức Sám Hối Sáu Căn, nói lên những điều sai trái mà sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý gây ra. Bài sám hối nầy rất thiết thực, xét lỗi đã qua của 6 căn để ngăn ngừa lỗi sẽ tới, cái bản ngã của mỗi con người nhờ vậy bớt vọng động, rồi dần dần tan biến. Đức Phật Thích Ca qua các kinh Kim Cang, Lăng Nghiêm và nhiều kinh khác đã phá chấp, dạy mọi người không chấp ngã, không chấp nhơn hay chúng sanh thọ giả. Phật dạy vô ngã, vô ngã sở, ta không có thật, cái gì của ta cũng không có thật. Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, trong bài pháp « Vô Ngã Là Niết Bàn » có nói niết bàn ở trước mặt, khi không còn phân biệt ta và người khác là đã đạt đến niết bàn rồi. « Niết bàn chính là từ bỏ ba độc tham, sân, si do ngã chấp gây nên. Vô ngã là niết bàn. Giờ phút nào cởi bỏ được ba độc, giờ phút đó là niết bàn. Cho nên chúng ta thấy niết bàn vừa là cái chung, vừa là cái riêng. Cái chung là ai cũng tu được vào được. Cái riêng là ai tu người ấy đắc. Đức Phật không bưng Niết bàn đến cho ta ngồi lên. Ngài chỉ dạy cho chúng ta con đường tu chứng Niết bàn mà thôi. Ngài dạy : « Ai còn tham luyến (tức còn ngã ái chấp đây là của tôi, ngã mạn chấp đây là tôi, ngã kiến chấp đây là tự ngã của tôi), thời có dao động. Ai không tham luyến thời không dao động. Ai không dao động thời được khinh an. Ai được khinh an thời không thiên chấp (nati). Ai không thiên chấp thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh thời không có đời này đời sau, không có giữa hai đời. Đây là sự đoạn tận khổ đau ».(Niết bàn-Tương Ưng Bộ Kinh 4/65.1982) » Khi hàng thanh văn đã đắc lý vô ngã thì tu lên Đại thừa, tu tập cái ngã của Phật, Bồ Tát. Đó là đại ngã, chơn ngã mà trong bài kệ trên, Đức Phật coi như độc tôn, đặc biệt thoát ra ngoài sanh, lão, bệnh, tử. Chơn ngã còn gọi là chơn tâm và còn nhiều tên khác, tùy theo kinh : « … Phật dạy trong Bồ Tát Giới gọi là Tâm Địa, vì hay phát sanh muôn việc thiện. Kinh Bát Nhã gọi là Bồ Đề, vì lấy giác làm thể. Kinh Hoa Nghiêm gọi là Pháp Giới, vì giao triệt và dung nhiếp. Kinh Kim Cang gọi là Như Lai, vì không từ đâu đến. Kinh Bát Nhã gọi là Niết Bàn, vì là chỗ qui hướng của chư Thánh. Kinh Kim Quang Minh gọi là Như Như, vì chơn thường bất biến. Kinh tịnh danh gọi là Pháp Thân, vì là chỗ nương của báo thân và hóa thân. Luận khởi tín gọi là Chơn Như, vì chẳng sanh chẳng diệt. Kinh Niết Bàn gọi là Phật Tánh, vì là bản thể của ba thân. Kinh Viên Giác gọi là Tổng Trì, vì mọi công đức từ đó mà lưu xuất. Kinh Thắng Mang gọi là Như Lai Tạng, vì ẩn phú va hàm nhiếp. Kinh Liễu Nghĩa gọi là Viên Giác, vì hay chiếu phá mờ tối ».(Chơn Tâm Trực Thuyết-Thiền Sư Phổ Chiếu soạn, Thiền Sư Thích Thanh Từ giảng) Ai cũng có chơn ngã, tức là có phật tánh, nhưng từ trước đến nay, bị vô minh, phiền não che khuất, cho nên không thấy được. Chơn ngã có đủ bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh. Tinh tấn tu hành sẽ được sáng suốt, giác ngộ hoàn toàn, chơn ngã hay Phật tánh hiển lộ, tức là thành Phật. Cho nên Đức Phật có giảng trong kinh Phạm Võng rằng : - Các ngươi là Phật sẽ thành, còn ta là Phật đã thành. Phật và chúng sanh chỉ cách nhau một bờ giác, nhưng muốn đến bờ giác đó không phải dễ dàng lắm đâu, có mấy ai tu nhứt kiếp ngộ nhứt thời. Đức Phật Thích Ca đã trãi qua nhiều kiếp tu hành hay chỉ mới tu và ngồi nhập định trong 49 ngày đêm dưới cội bồ đề rồi thành Phật ? Nhưng nếu ngại đường dài mà không đi thì làm sao đến, chuông không đánh làm sao kêu (lộ bất hành bất đáo, chung bất đả bất minh) ? Tu nhiều thì giác nhiều, tu ít thì giác ít. Dù sao công phu tu hành cũng giúp chúng ta hiểu biết hơn, sáng suốt hơn. Để tìm chơn ngã hay chơn tâm, Phật tánh, thầy tổ thường dạy tu theo Giới, Định, Huệ. Giới là những qui định để người tu hành nói chung phải tuân theo, thường là những điều cấm kỵ, không được làm. Giới luật đặt ra là vì lợi ích cho bản thân người tu hành cũng như cho những người khác, như một trong năm giới cho người tu tại gia, qui y tam bảo là không được tà dâm để bảo tồn hạnh phúc gia đình của chính người đã qui y và những đối tượng có liên quan. Giữ giới hạnh còn giúp cho thân tâm được thanh tịnh. Định là để tâm quán sát, chuyên chú vào một sự việc, không lăng xăng chạy theo vọng niệm. Pháp môn tu thiền (tọa thiền) cũng như pháp môn tịnh độ (niệm danh hiệu Phật nhất tâm bất loạn) đều là cách buộc tâm cho định. Còn huệ, theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn, là cái đức dụng sáng suốt, thông hiểu sự và lý, dứt điều lầm lạc và mê muội, có lòng quyết định, diệt hết sở nghi. Có định mới có huệ. Thầy tổ cũng có lời khuyên phải biết buông xả, không chấp trước. Không nhìn ra ngoài, tránh chuyện thị phi, sanh tâm phân biệt, mà phải nhìn vào trong để sám hối về những điều sai trái của mình và tu theo tam huệ : - Văn huệ : Tụng kinh và nghe kinh hoặc nghe lời thầy bạn mà phát huệ ; - Tư huệ : nhờ quán chiếu mà phát huệ ; - Tu huệ : nhờ tu thiền định mà phát huệ. Tóm lại, trên mặt tương đối, người ta phân biệt có hai cái ngã: một cái nên chừa là bản ngã hay vọng ngã ; còn một cái là chơn ngã phải nên phát huy, bằng con đường tu đạo, con đường đạt quả vị giác ngộ vô thượng. Tài liệu tham khảo : - Vô Ngã Là Niết Bàn - Hòa Thượng Thích Thiện Siêu - Chơn Tâm Trực Thuyết - Thiền Sư Phổ Chiếu soạn, Thiền Sư Thích Thanh Từ giảng - Thông Điệp Đức Phật Ra Đời - Thượng Tọa Thích Thông Phương - Con Đường Thoát Khổ - Ni Sư Thích Trí Hải - Từ Điển Phật Học - Đoàn Trung Còn http://thatsonchaudoc.com/banviet2/DuongVanChung_KC/TruyenNgan/GN_DuyNgaDocTon.htm
edited Aug 12 lúc 4:40 pm
47
15
1
xem trước trực tiếp
nhập ít nhất 10 ký tự
Cảnh báo: You mentioned %MENTIONS%, but they cannot see this message and will not be notified
Đang lưu...
Đã lưu
Trạng thái
With đã chọn deselect posts xem các bài viết đã chọn
All posts under this topic will be đã xóa ?
Đang còn lưu nháp ... Click để sửa đổi lại
Xóa lưu nháp