Trạng thái
Chỉ riêng An Phú

Các tác phẩm của tác giả Khiêm Cung Dương Văn Chung

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=pfbid0DpEKFRSFdnxrDq8Sx6fwJxZz9tzqzdX9KH7WKr6Wmv6buFn5HTiiCC2id6zHBesvl&id=100069202657322

Thất Sơn Châu Đốc
5 Tháng 5 ·

BẾN CHÂU GIANG

MIÊN MAN NỖI NHỚ

Khiêm Cung

Bến Châu Giang, miên man nỗi nhớ khi được Nhà Văn Vũ Thất cho hay Lễ Khánh thành cây cầu Châu Đốc-Tân Châu. Gió đưa gió đẩy, thời niên thiếu, tôi đã có một năm gắn bó với Bến Châu Giang.

Trong năm học 1949-1950, tôi đang học lớp Nhì do Thầy Lê Văn Vững dạy, Thầy và khoảng 30 giáo viên cùng trường bị bót lính kín Châu Đốc bắt giam vì bị tình nghi ủng hộ kháng chiến chống Pháp.

Năm học trước, 1948-1949, tôi đã học lớp Ba cũng do Thầy Vững dạy. Có lẽ thấy tôi học chăm chỉ, Thầy thương, nên ngoài việc dạy học chữ, Thầy còn đặc biệt tập cho tôi viết và đọc diễn văn chúc mừng quý thầy cô cùng dạy chung trường được Thầy mời đến dự tiệc tất niên tại lớp. Cuối mỗi năm học, Thầy mở lớp dạy toán và Pháp văn miễn phí cho học trò của Thầy và con của quý thầy cô khác xin học thêm. Đặc biệt, Thầy bỏ tiền túi lên án thế vì khai sanh cho tôi và hai anh bạn khác cùng lớp, cả ba đứa đều thuộc diện từ thôn quê ra tỉnh học trễ, phải khai sụt tuổi mới được chấp nhận cho học.

Trước tình thương bao la của Thầy, tôi kính thương Thầy như cha ruột. Tôi tự ý nghỉ học để mỗi ngày đem cơm do Thím nấu (Thầy dạy học trò gọi vợ Thầy là Thím) để Thầy dùng. Thầy nhắn tin ra, khuyên tôi đi học lại, tôi vẫn tiếp tục đem cơm cho Thầy để có dịp nhìn thấy Thầy qua cửa sổ của trại giam. Các bạn đồng học Lớp Nhì của tôi đã bắt đầu lên học Lớp Nhứt. Quý Thầy Cô được thả ra, sau mấy tháng bị giam cầm.

Nghỉ học một thời gian, sanh ra chán nản, tôi không thiết tha với việc học chữ nữa, muốn đi học nghề thợ máy, cha tôi không cho, nói rằng nghề đó cực khổ lắm. Gặp lúc Dì Dượng tôi thầu được các bến đò Châu Phú-Cồn Tiên và Châu Phú-Châu Giang, tôi đi góp đò giùm cho Dì Dượng một năm. Đến đầu năm 1951, vụ thầu bến đò của Dì Dượng tôi đã mãn, lúc đó là giữa năm học 1950-1951, Thầy Vững mới gởi gắm tôi vào học lớp Nhứt của Thầy Đặng Văn Thuận, và trúng tuyển vào Lớp Đệ Thất.

Đò Châu Giang có hai bến: bến Đình Châu Phú-Châu Giang và Bến bắc (Bến phà) Châu Đốc (chỗ Nhà thờ)-Châu Giang.

Tôi lúc đó 15 tuổi, có mặt ở cả ba bến đò, có lúc ở bờ bên này chợ Châu Đốc, có lúc ở bờ bên kia, Cồn Tiên hay Châu Giang.

Nói chung, dân tình Châu Giang rất hiền hòa. Đồng bào Chăm và Việt sống chung với nhau rất anh em. Người Chăm theo Đạo Hồi, không ăn thịt heo.

Ở bến Châu Giang-Đình Châu Phú, có bến xe đò từ Châu Giang đi Tân Châu, rất nhộn nhịp. Hàng quán mua bán tấp nập. Tôi nhớ tại đó có một tiệm tạp hóa của người Hoa, mà cô con gái lớn có biệt tài gõ bàn toán Tàu bằng chân, tay gói hàng, chân gõ bàn toán, kết quả rất chuẩn xác.

Đò có hai loại : đò chủ, tức là của chủ thầu, giá 50 xu một chuyến cho một người hay một chiếc xe đạp, học sinh được miễn phí; đò ngoài hay đò tư nhân, lệ phí cao hơn vì họ phải đóng lại cho chủ thầu 50 xu cho một người hay một chiếc xe đạp. Đò chủ lớn, chở được đông người, mặc y phục đủ màu sắc, nói chuyện ì xèo, vui nhộn lắm. Các cô lái đò tư nhân chèo xuồng tam bản ở phía sau lái bằng 2 cây chèo, bước tới bước lui nhẹ nhàng, uyển chuyển giống như đang vũ theo vũ điệu cha-cha-cha.

Bến Bắc Châu Giang-Nhà Thờ Châu Đốc có một sắc thái riêng. Bên bờ Châu Giang tương đối vắng lặng hơn Bến Châu Giang-Đình Châu Phú, có một nhà thờ Hồi giáo khá tôn nghiêm. Ở bến này, có một chiếc bắc đưa xe hơi (ô-tô), người và xe đạp, xe gắn máy qua sông; người và xe gắn máy, xe đạp phải trả 50 xu cho chủ thầu đò, còn xe hơi, tôi không rõ chánh quyền có thu lệ phí ra sao. Cũng có đò chủ, lúc đó do Chú Bảy, người Chăm và chú Hai Cho chèo, không có đò tư nhân tại bến này. Nhóm công nhân của chiếc bắc khoảng năm sáu người, có Chú Lòng, Chú Trạch...và người cao tuổi nhứt là một ông già móm, có biệt danh là “Ông Hai Khối Tình”, là đầu đàn, nói toàn những chuyện tình ái lăng nhăng để chọc cười cả nhóm.
Xe hơi ở bên này mà chiếc bắc đang đậu ở bên kia, tài xế bóp kèn xe inh ỏi để gọi bắc. Xe nhà binh hay xe của “dân cậu”, như Cậu Ba, Cậu Tư, Cậu Út có súng, luôn bắn 3 phát hay hàng loạt chỉ thiên, vừa để gọi đò, vừa thị oai cho bà-con lé con mắt.

Có hai lần tôi gặp Ông Ba Cụt, tức là Đại Tá Lê Quang Vinh và đoàn tùy tùng qua bắc, ông đội bê-rê màu xanh lá cây đậm, người cao ráo nhưng thon thả. Tôi nghe người lớn nói cấp bậc Đại Tá là Tây phong cho ông, ông ra thỏa hiệp với Tây để lấy súng rồi trở vô bưng, ra vô mấy lần như vậy. Nhiều người ái mộ ông, tôn sùng ông là một anh hùng.

Nghe nói ngày 05/05/2024, chiếc bắc Bến Châu Giang-Nhà thờ Châu Đốc ngưng hoạt động vì cây cầu Châu Đốc-Tân Châu đã khánh thành, sinh hoạt của cư dân địa phương nơi bến bắc này chắc chắn chịu ít nhiều ảnh hưởng, bến bờ đìu hiu, lặng lẽ. Cây cầu này cách xa bến bắc cũ cả mấy cây số đi về hướng Long Xuyên, cư dân muốn đi chợ Châu Đốc phải đến Bến Châu Giang-Đình Châu Phú hay phải đi vòng mấy cây số, qua cầu mới Châu Đốc-Tân Châu. Hy vọng thế nào cũng có những chiếc đò ngang, dù nhỏ hay lớn, đưa cư dân qua lại hai bên bờ sông nơi bến bắc cũ.

Mọi việc đổi thay. Con sông Bassac chạy ngang chợ Châu Đốc vẫn chảy, nhưng có lẽ không cuồn cuộn như ngày nào, vì nước bị ngăn chặn ở thượng nguồn, người cũ hầu hết đã ra đi, chiếc cầu mới khánh thành, chiếc bắc ngưng chạy...

Đò xưa không còn, nhưng sao tâm mình không bao giờ quên bến cũ.

Sydney, 02/05/2024

Bến Châu Giang Khiêm Cung

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=pfbid0DpEKFRSFdnxrDq8Sx6fwJxZz9tzqzdX9KH7WKr6Wmv6buFn5HTiiCC2id6zHBesvl&id=100069202657322 Thất Sơn Châu Đốc 5 Tháng 5 · # BẾN CHÂU GIANG # MIÊN MAN NỖI NHỚ ## Khiêm Cung Bến Châu Giang, miên man nỗi nhớ khi được Nhà Văn Vũ Thất cho hay Lễ Khánh thành cây cầu Châu Đốc-Tân Châu. Gió đưa gió đẩy, thời niên thiếu, tôi đã có một năm gắn bó với Bến Châu Giang. Trong năm học 1949-1950, tôi đang học lớp Nhì do Thầy Lê Văn Vững dạy, Thầy và khoảng 30 giáo viên cùng trường bị bót lính kín Châu Đốc bắt giam vì bị tình nghi ủng hộ kháng chiến chống Pháp. Năm học trước, 1948-1949, tôi đã học lớp Ba cũng do Thầy Vững dạy. Có lẽ thấy tôi học chăm chỉ, Thầy thương, nên ngoài việc dạy học chữ, Thầy còn đặc biệt tập cho tôi viết và đọc diễn văn chúc mừng quý thầy cô cùng dạy chung trường được Thầy mời đến dự tiệc tất niên tại lớp. Cuối mỗi năm học, Thầy mở lớp dạy toán và Pháp văn miễn phí cho học trò của Thầy và con của quý thầy cô khác xin học thêm. Đặc biệt, Thầy bỏ tiền túi lên án thế vì khai sanh cho tôi và hai anh bạn khác cùng lớp, cả ba đứa đều thuộc diện từ thôn quê ra tỉnh học trễ, phải khai sụt tuổi mới được chấp nhận cho học. Trước tình thương bao la của Thầy, tôi kính thương Thầy như cha ruột. Tôi tự ý nghỉ học để mỗi ngày đem cơm do Thím nấu (Thầy dạy học trò gọi vợ Thầy là Thím) để Thầy dùng. Thầy nhắn tin ra, khuyên tôi đi học lại, tôi vẫn tiếp tục đem cơm cho Thầy để có dịp nhìn thấy Thầy qua cửa sổ của trại giam. Các bạn đồng học Lớp Nhì của tôi đã bắt đầu lên học Lớp Nhứt. Quý Thầy Cô được thả ra, sau mấy tháng bị giam cầm. Nghỉ học một thời gian, sanh ra chán nản, tôi không thiết tha với việc học chữ nữa, muốn đi học nghề thợ máy, cha tôi không cho, nói rằng nghề đó cực khổ lắm. Gặp lúc Dì Dượng tôi thầu được các bến đò Châu Phú-Cồn Tiên và Châu Phú-Châu Giang, tôi đi góp đò giùm cho Dì Dượng một năm. Đến đầu năm 1951, vụ thầu bến đò của Dì Dượng tôi đã mãn, lúc đó là giữa năm học 1950-1951, Thầy Vững mới gởi gắm tôi vào học lớp Nhứt của Thầy Đặng Văn Thuận, và trúng tuyển vào Lớp Đệ Thất. Đò Châu Giang có hai bến: bến Đình Châu Phú-Châu Giang và Bến bắc (Bến phà) Châu Đốc (chỗ Nhà thờ)-Châu Giang. Tôi lúc đó 15 tuổi, có mặt ở cả ba bến đò, có lúc ở bờ bên này chợ Châu Đốc, có lúc ở bờ bên kia, Cồn Tiên hay Châu Giang. Nói chung, dân tình Châu Giang rất hiền hòa. Đồng bào Chăm và Việt sống chung với nhau rất anh em. Người Chăm theo Đạo Hồi, không ăn thịt heo. Ở bến Châu Giang-Đình Châu Phú, có bến xe đò từ Châu Giang đi Tân Châu, rất nhộn nhịp. Hàng quán mua bán tấp nập. Tôi nhớ tại đó có một tiệm tạp hóa của người Hoa, mà cô con gái lớn có biệt tài gõ bàn toán Tàu bằng chân, tay gói hàng, chân gõ bàn toán, kết quả rất chuẩn xác. Đò có hai loại : đò chủ, tức là của chủ thầu, giá 50 xu một chuyến cho một người hay một chiếc xe đạp, học sinh được miễn phí; đò ngoài hay đò tư nhân, lệ phí cao hơn vì họ phải đóng lại cho chủ thầu 50 xu cho một người hay một chiếc xe đạp. Đò chủ lớn, chở được đông người, mặc y phục đủ màu sắc, nói chuyện ì xèo, vui nhộn lắm. Các cô lái đò tư nhân chèo xuồng tam bản ở phía sau lái bằng 2 cây chèo, bước tới bước lui nhẹ nhàng, uyển chuyển giống như đang vũ theo vũ điệu cha-cha-cha. Bến Bắc Châu Giang-Nhà Thờ Châu Đốc có một sắc thái riêng. Bên bờ Châu Giang tương đối vắng lặng hơn Bến Châu Giang-Đình Châu Phú, có một nhà thờ Hồi giáo khá tôn nghiêm. Ở bến này, có một chiếc bắc đưa xe hơi (ô-tô), người và xe đạp, xe gắn máy qua sông; người và xe gắn máy, xe đạp phải trả 50 xu cho chủ thầu đò, còn xe hơi, tôi không rõ chánh quyền có thu lệ phí ra sao. Cũng có đò chủ, lúc đó do Chú Bảy, người Chăm và chú Hai Cho chèo, không có đò tư nhân tại bến này. Nhóm công nhân của chiếc bắc khoảng năm sáu người, có Chú Lòng, Chú Trạch...và người cao tuổi nhứt là một ông già móm, có biệt danh là “Ông Hai Khối Tình”, là đầu đàn, nói toàn những chuyện tình ái lăng nhăng để chọc cười cả nhóm. Xe hơi ở bên này mà chiếc bắc đang đậu ở bên kia, tài xế bóp kèn xe inh ỏi để gọi bắc. Xe nhà binh hay xe của “dân cậu”, như Cậu Ba, Cậu Tư, Cậu Út có súng, luôn bắn 3 phát hay hàng loạt chỉ thiên, vừa để gọi đò, vừa thị oai cho bà-con lé con mắt. Có hai lần tôi gặp Ông Ba Cụt, tức là Đại Tá Lê Quang Vinh và đoàn tùy tùng qua bắc, ông đội bê-rê màu xanh lá cây đậm, người cao ráo nhưng thon thả. Tôi nghe người lớn nói cấp bậc Đại Tá là Tây phong cho ông, ông ra thỏa hiệp với Tây để lấy súng rồi trở vô bưng, ra vô mấy lần như vậy. Nhiều người ái mộ ông, tôn sùng ông là một anh hùng. Nghe nói ngày 05/05/2024, chiếc bắc Bến Châu Giang-Nhà thờ Châu Đốc ngưng hoạt động vì cây cầu Châu Đốc-Tân Châu đã khánh thành, sinh hoạt của cư dân địa phương nơi bến bắc này chắc chắn chịu ít nhiều ảnh hưởng, bến bờ đìu hiu, lặng lẽ. Cây cầu này cách xa bến bắc cũ cả mấy cây số đi về hướng Long Xuyên, cư dân muốn đi chợ Châu Đốc phải đến Bến Châu Giang-Đình Châu Phú hay phải đi vòng mấy cây số, qua cầu mới Châu Đốc-Tân Châu. Hy vọng thế nào cũng có những chiếc đò ngang, dù nhỏ hay lớn, đưa cư dân qua lại hai bên bờ sông nơi bến bắc cũ. Mọi việc đổi thay. Con sông Bassac chạy ngang chợ Châu Đốc vẫn chảy, nhưng có lẽ không cuồn cuộn như ngày nào, vì nước bị ngăn chặn ở thượng nguồn, người cũ hầu hết đã ra đi, chiếc cầu mới khánh thành, chiếc bắc ngưng chạy... Đò xưa không còn, nhưng sao tâm mình không bao giờ quên bến cũ. Sydney, 02/05/2024 ![Bến Châu Giang Khiêm Cung](https://i.imgur.com/n5F4rOL.jpeg)
edited 3 giờ trươc

Trò chuyện cùng anh Hai An Phú nhơn ngày giỗ thứ tư của nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa

Hai Trầu ♦ 1 bình luận ♦ 27.09.2011

Lời giới thiệu của người thực hiện: Lúc thiếu thời, nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa cùng học trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) với anh Hai An Phú tức nhà văn Khiêm Cung Dương Văn Chung, dù khác niên học khá xa vì tuổi tác mỗi người có khác nhau, nhưng sau này khi cùng định cư tại Úc Đại Lợi, hai anh lại quen biết và gần gũi thân thiết với nhau. Nhơn dịp kỷ niệm ngày giỗ lần thứ tư của nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa,(mất ngày 27-9-2007), anh Hai An Phú có nhã ý nhắc lại vài kỷ niệm với người bạn năm xưa của mình qua buổi trò chuyện này. Xin được trân trọng giới thiệu cùng các bạn đọc xa gần…

Trân trọng,

Hai Trầu
Kinh xáng Bốn Tổng, tháng 9 năm 2011

Hai Trầu (HT)

Thưa anh Hai An Phú,

Anh và nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa quen nhau hồi còn theo học trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) những năm 1950 hay mới quen nhau sau này, thưa anh Hai ?

Anh Hai An Phú (HAP)

Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Tôi học Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc đến hết lớp Đệ Tam (Niên khóa 1954/55), tôi đi Sài Gòn học, không biết anh Nghĩa nhập học Thủ Khoa Nghĩa năm nào, trước hay sau khi tôi đi Sài Gòn học. Do đó anh Nghĩa và tôi không có quen nhau lúc còn ở Việt Nam, nhưng có biết vợ chồng tôi là người Châu Đốc lớn tuổi hơn anh và là đồng môn Thủ Khoa Nghĩa đang định cư ở Sydney và đang làm công quả ở một chùa Phật, anh muốn tìm thăm.

Khoảng năm 2003 (tôi nhớ không rõ), có một Sư Cô từ chùa Phước Huệ Sydney đi thăm các chùa ở Brisbane (Tiểu bang Queensland-Úc), gặp anh Nghĩa công quả ở một trong các chùa đó, anh Nghĩa hỏi thăm Sư Cô có người nào tên Chung và vợ là chị Phấn, người Châu Đốc, đang công quả ở chùa Phước Huệ không? Sư Cô nói không biết tên ngoài đời nhưng có cặp vợ chồng có pháp danh Thiện Châu và Huệ Ngọc, người Châu Đốc, đang công quả ở đó. Anh Nghĩa gởi Sư Cô tên, địa chỉ và số điện thoại của anh, nhờ Sư Cô đưa cho tôi và dặn nếu đúng là vợ chồng tôi thì liên lạc với anh, anh rất mong tiếp chuyện với chúng tôi.

Chúng tôi quen biết nhau từ đó và liên lạc bằng thư từ và điện thoại nhắc lại nhiều kỷ niệm về Châu Đốc và trường cũ. Chính anh Nghĩa giới thiệu tôi mới biết có Trang nhà Thất Sơn Châu Đốc mà những người sáng lập là hai bạn đồng môn Đoàn Đông và Lộc Tưởng.

HT:

Thưa anh Hai An Phú,

Trong những câu chuyện hai anh cùng nhắc lại, có câu chuyện nào mãi đến nay anh còn nhớ? Ngoài ra, lúc bấy giờ anh có biết anh Lưu Nhơn Nghĩa là nhà văn Phong Hưng chưa, thưa anh Hai ?

HAP:

Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Trước khi trả lời câu hỏi của anh Hai về những chuyện trao đổi giữa anh Nghĩa và tôi, tôi xin đính chánh lại về thời gian anh Nghĩa và tôi bắt đầu quen nhau, tôi nhớ lại là khoảng trên 15 năm rồi, như vậy là khoảng năm 1994-1995, không phải năm 2003.

Đúng như anh Nghĩa có lần nhìn nhận trong Những Mảnh Vụn Cuộc Đời, anh là một người già chuyện, mỗi khi điện cho tôi, hai đứa nói với nhau “gần cháy máy điện thoại”, anh nói chuyện rất vui, rất hấp dẫn, rất chân tình.

Mặc dầu là đồng môn Thủ Khoa Nghĩa, nhưng không đồng thời, nên chẳng có nhiều kỷ niệm chung nơi trường cũ, quý vị Hiệu Trưởng và quý Thầy Cô thời tôi học hầu hết đã rời khỏi trường trước khi anh Nghĩa đến học.

Lúc trò chuyện với nhau, có lẽ Nghĩa cũng như tôi đều mường tượng đến một ngôi trường cũ ở một tỉnh giáp biên giới Miên, từ văn phòng cho đến các dãy lớp học, từ cái cổng trường cho đến cây cột cờ. Anh cũng đưa tôi đi trên “Con Đường Cũ”, con đường Bảo Hộ Thoại có dãy phố công chức mà anh và vợ chồng tôi đã từng sống ở đó. Nghĩa ở trọ nhà Thầy Giáo Khá, mấy căn kế cận có nhà Ông Đốc Đồng, Nhà Thầy Phương, Thầy Rớt…v.v. Đi tới một chút nữa, bỏ một con đường nhỏ thì tới dẫy phố Ông Bà nhạc của tôi ở, lân cận có nhà Thầy Giáo Tỵ; Thầy Ba Minh và Thầy Ba Ngươn làm việc ở Tòa Bố (Tòa Hành Chánh Tỉnh), Ông Bác Vật (Kỹ sư) Kim tức là Thầy Trần Sun, thầy dạy chúng tôi ở trường Thủ Khoa Nghĩa, Thầy Ba Thoại làm việc ở Ty Nông Nghiệp, còn Ông nhạc của tôi là Thầy Hai Tấn làm ở Nhà Thương (Bệnh viện) Châu Đốc. Làm sao tôi quên được con đường Bảo Hộ Thoại mà vợ chồng tôi có nhiều kỷ niệm từ lúc mới quen nhau cho đến khi thành vợ thành chồng.

Anh Nghĩa là người đi săn tìm kỷ niệm, anh thường hỏi tôi về những ngày xa lắt xa lơ. Sau khi mẫu thân của anh Nghĩa mất tại Úc, anh đem tro cốt về quê nhà, anh có đến thăm ngôi trường Thủ Khoa Nghĩa, anh muốn chụp hình ngôi trường để làm kỷ niệm, người giữ trường không cho và nói rằng trường đã quá cũ, xấu xí, anh chụp hình đem ra nước ngoài, người ta sẽ khinh nước mình nghèo, anh Nghĩa thăm Tri Tôn (Xà-Tón) thì cảnh đã quá đổi thay, anh không còn nhận ra vị trí ngôi nhà cũ của anh, phố xá hoàn toàn khác, người cao tuổi đã chết, tốp trẻ thì anh không quen. Khi trở qua Úc anh than với tôi: Về quê nhà, tôi hăm hở đi tìm kỷ niệm, nhưng đã thất vọng não nề, mọi việc đều xa lạ.

Tôi rất thông cảm với Nghĩa, năm 2007 trong chuyến về thăm Việt Nam, tôi ghi tên đi du ngoạn Hà Tiên, mục đích để có dịp gợi lại những kỷ niệm cũ ở những nơi tôi đã từng sống: con đường về miền Tây qua cây cầu Bến Lức một chiều, ở hai đầu cầu có bán khóm ngọt lịm như rim đường, qua Trung Lương có quán hủ tiếu Mỹ Tho, Bắc Mỹ Thuận phải chờ đò, hàng quán mua bán tấp nập…, qua Long Xuyên đến Châu Đốc quê tôi, tôi ước mơ nhìn lại dãy phố Bảo Hộ Thoại ngày xưa, rồi con đường vào Núi Sam mà hai bên đường nhà cửa lưa thưa, ngồi trên xe sẽ nhìn thấy được nước ruộng hai bên bờ, rồi đến Núi Sam với Miểu Bà Chúa Xứ, qua Nhà Bàng, Núi Két đến Văn Giáo, Chợ Voi, rồi đến Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng, nơi tôi từng làm việc trong thời gian tại ngũ, Hà Tiên là nơi vợ chồng tôi đến thăm sau ngày cưới.

Tôi cũng thất vọng như anh Nghĩa: Cầu Bến lức bây giờ hai chiều, xe chạy thông thương ít khi dừng lại để khách mua khóm ngọt, Trung Lương bây giờ cất lại mới, cầu Mỹ Thuận thay cho bến Bắc, hàng quán và mấy chiếc bắc bây giờ còn đâu, không còn nghe tiếng rao hàng lảnh lót, Long Xuyên phố xá tráng lệ, khang trang, nhà lồng chợ Châu Đốc vẫn còn cũ kỷ như xưa, nhà cửa xây cất lại, dãy phố Bảo Hộ Thoại đổi khác, đường vào Núi Sam nhà cửa bít kín hai bên đường, Miểu Bà bây giờ là khu thương mại tấp nập, cây cối và nhà cửa sầm uất che mất Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng. Hỏi Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng cũ ở chỗ nào thì lơ xe trả lời chỗ bảng “Quân Đội Nhân Dân” vừa chạy qua khỏi, đi vào sâu phía trong, bến Đò Tô Châu một cái tên thân thương và thơ mộng ở Hà Tiên bây giờ không còn nữa, thay vào đó là một cây cầu. Tôi cũng thất vọng như anh Nghĩa, hai đứa tôi đều có chung cái cảm giác ngỡ ngàng trước những đổi thay giống như hai chàng Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai trở về.

Thưa anh Hai,

Lúc mới quen anh Nghĩa tôi không biết anh ấy viết văn. Dần dần anh gởi cho tôi những truyện ngắn anh viết, viết tay hoặc đánh máy, ký tên Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa. Vợ chồng tôi và sắp nhỏ thích đọc truyện ngắn của anh, vì lối văn binh dân của anh dễ thấm nhập vào tâm hồn của những người xuất thân từ nông thôn như chúng tôi. Tôi thường nói Nghĩa là cháu ruột của Hồ Biểu Chánh. Đến năm 2001, Nghĩa tặng tôi quyển Như Cánh Chuồn Chuồn, các con tôi chuyền tay nhau đọc.

HT:

Thưa anh Hai An Phú,

Là một người đồng hương, cùng trường, cùng xa cố hương, cùng có ý tìm về cái cũ hầu tìm lại chút hình bóng xưa vào những ngày còn ngụ cư nơi con đường Bảo Hộ Thoại, Châu Đốc, một thời tuổi học trò ấy và rồi anh không vui vì thời gian và cảnh đời dời đổi quá nhiều. Nhưng khi anh đọc văn của anh Lưu Nhơn Nghĩa anh rất thích như anh tâm sự:"Vợ chồng tôi và sắp nhỏ thích đọc truyện ngắn của anh, vì lối văn binh dân của anh dễ thấm nhập vào tâm hồn của những người xuất thân từ nông thôn như chúng tôi.". Vậy, thưa anh Hai, qua các truyện ngắn và bút ký trong hai tác phẩm Như Cánh Chuồn Chuồn (1) và Con Đường Cũ (2), xin anh Hai có thể kể cho biết anh mê nhất truyện nào và vì sao thưa anh ?

HAP:

Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Tôi rất khó trả lời câu hỏi của anh Hai: qua các truyện ngắn và bút ký trong hai tác phẩm Như Cánh Chuồn Chuồn và Con Đường Cũ, tôi mê nhất truyện nào và vì sao?

Khó trả lời là vì truyện nào tôi cũng mê, mỗi truyện có cái đặc sắc của nó, cứ để thử hai truyện nào đó lên hai bàn tay để cân hạo, khó kết luận truyện nào nặng hơn, ví dụ trong Như Cánh Chuồn Chuồn, Chuyến Xe Cuối Năm, tôi xem là tiểu thuyết vì có nhiều chỗ hư cấu, trong đó nhân vật chánh là Chú Bảy Tề tài xế, từng trải việc đời, có tay nghề, hào hoa phong nhã, tằng tịu với Cô Út, “khách bộ hiền”, chở hàng đi bán; về sau già yếu, lụt nghề, bị chủ xe bỏ rơi, người yêu rời xa, lơ xe cũng ăn hiếp, “nhà sập bìm bìm leo” mà “bìm bìm leo thì hắc sửu cũng leo”, tôi nói truyện này hay vì nội dung câu chuyện rất sát với đời thường, lại còn đệm thêm nhiều câu hát huê tình rất đúng chỗ.

Nhưng tôi lại chọn truyện Như Cánh Chuồn Chuồn hơn vì nó phản ảnh gần một nửa cuộc đời lêu lỏng của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, Nghĩa như con cóc, bị Ông thân bắt bỏ trong cái dĩa, mới để vào cái dĩa, con cóc lại nhảy ra, mới được đưa vào học ở trường Hoa, bắn nạng dàng thung gây thương tích cho học sinh trường khác, bị đuổi học, Ông già đưa vào học chữ Miên rồi cũng nghỉ, đưa qua học chữ Pháp, chữ Việt thì rớt lên rớt xuống, thi sáu lần không đậu bằng Trung học đệ nhất cấp…; đặc biệt trong truyện có mối tình e ấp giữa Lưu Nhơn Nghĩa và cô bạn học người Hoa ở tiệm đối diện tên Thục Linh, đẹp và khả ái, có duyên với nhau nhưng không có nợ; trong truyện nầy, tác giả có những cú pháp rất chuẩn xác, như: Bầm dập cuộc đời...(trang 5/6)

Tả lúc Thục Linh dẫn ba đứa con nhỏ đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung thăm chồng đi quân dịch, khi ra về tay ẵm tay bồng, mà còn một đứa níu vạt áo chạy theo, Trung Úy Nghĩa hào hiệp tiếp cõng một đứa đưa lên xe lam, Thục Linh và Nghĩa mới bất chợt nhận ra nhau, ngỡ ngàng, Nghĩa viết: “Khách bộ hành xô đẩy ba mẹ con Thục Linh vào trong xe nổ máy ầm ầm chạy khỏi bến. Thục Linh ôm ba con cúi đầu chào, tôi bất giác cúi chào lại, cả hai cúi chào duyên số hẩm hiu” (Trang 5/6).

Tả lúc Ông Thoại Ký, cha của Thục Linh, khổ sở vì phải hối lộ dài dài cho cảnh sát, quân cảnh… để lo cho chồng Thục Linh đào ngũ, Nghĩa viết: “Ông lắc đầu, uống ngụm cà phê đen, nhìn ông thân tôi, nuốt cà phê như nuốt hận vào lòng:-Phải mình là xin kê, tôi đâu có lo lính tráng cho thằng Din Nghĩ?” (Trang 6/6).

Như Cánh Chuồn Chuồn đã ghi lại hơn một phần ba cuộc đời của Lưu Nhơn Nghĩa, từ niên thiếu đến tuổi biết yêu, anh nói tất cả những khuyết điểm của mình như một con chiên xưng tội, tôi mến phục Lưu Nhơn Nghĩa ở cái tánh chân thật của anh.

Nếu chọn Như Cánh Chuồn Chuồn mà không chọn Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời trong quyển Con Đường Cũ (trang 177-185) sẽ bị trách là không đầu không đuôi. Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời là bài mà tôi mê nhất đó anh Hai, vì:

Tôi chưa từng thấy ai binh tĩnh như Lưu Nhơn Nghĩa trước cái chết gần kề; anh chuẩn bị dời về căn nhà cũ gần thành phố, nhìn từng đồ vật mà anh tích tụ bấy lâu, từ phim ảnh, dĩa nhạc đến sách truyện, anh nhớ từng nhân vật trong phim, trong truyện, anh phê binh các bản dịch thơ phú, văn chương, hiểu biết của anh quá sâu rộng qua những tác phẩm viết bằng Anh, Pháp, Việt và Hán. Anh nhìn 78 cuốn nhựt ký và bao nhiêu vật kỷ niệm trong cuộc đời, anh không biết thứ nầy cho ai, thứ kia tặng ai; bao nhiêu chuyện quá khứ hiện về, thành có, bại có, nên có, hư có, rồi anh thành tâm sám hối:

“Sinh vùng quê nghèo, lớn lên thiếu sức khỏe, 11 tuổi xa quê tới nay, thiếu không khí và giáo dục gia đình. Suốt bao nhiêu năm sống, đủ hỷ nộ ái ố, tham sân si. Tính tôi đơn giản, nông cạn, kém thông minh, học rất chậm mà siêng năng, không ưa danh vọng, chỉ ham sắc, ham tiền và du lịch. Lúc thì mặc cảm lẫn tránh, lúc thì nông nỗi, tự cao tự đại, mục hạ vô nhân, lúc ti tiện từng xu, lúc xài vô lối, tính bất thường, nhiều người ơn kẻ oán, thù chắc không có.

Trước khi đi, còn nhớ, xin thế gian quên cho những lỗi lầm vô tình hay cố ý, cám ơn ân nhân giúp đỡ khi túng bấn, nguyện trả khi có cơ hội kiếp lai sinh.”

Thật là vẹn tròn, còn ai nỡ hờn ghét gì anh nữa?

Anh nói:

“Ngày đi đầu thai, biết về đâu? Về VN là hết hy vọng, ai bảo lãnh qua ngoại quốc. Nghiệp dẫn đi đâu, làm đơn gởi xin được thác về làng Muruparra Bắc New Zealand vắng vẻ, đào củ kumera nung đá, thành món hangi thơm mùi khói, ăn no, chạy chơi thong dong qua cánh rừng thưa bạt ngàn.”

Sau cùng với tư tưởng Phật giáo, anh niệm câu chú trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, nguyện được đến bờ giác bên kia:

“Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế bồ đề tát bà ha.”

Hy vọng anh Nghĩa được toại nguyện.

Còn anh thì anh mê truyện nào của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, anh Hai?

HT:

Rất cảm ơn anh Hai chia sẻ vài cảm nhận qua các truyện của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, những nhận xét rất khách quan mà gần gũi, rất thân thiết mà trung thực. Riêng tôi, cùng tuổi già như anh Hai, cùng nhớ về một thời quê nghèo, cùng thương mến sông nước vùng mình và nhứt là cùng lận đận trong những ngày còn nhỏ học hành trễ nải, rồi cứ rớt lên rớt xuống nhiều keo, nên tôi rất cảm thông với những đoạn đời nhiều nhiêu khê qua những mùa thi cử ấy của anh Lưu Nhơn Nghĩa. Nhưng tôi dở hơn anh Lưu Nhơn Nghĩa nhiều vì thời tiểu học rồi trung học anh ấy lận đận như vậy nhưng nhờ ý chí vươn lên, nhờ trời phú cho tính nhớ dai và nhờ thông thái ở những ngày học đại học nên anh ra trường với bằng Đại học Sư Phạm và bằng Cử nhân Anh Văn, những mảnh bằng rất mực hiếm hoi lúc bấy giờ và cả sau này khi tôi vào đời, quả là một điều mà tôi vô cùng nể phục. Anh ấy xứng đáng là bậc thầy của tôi đó anh Hai.

Còn văn anh Lưu Nhơn Nghĩa thì khó so sánh với ai vì cái nét độc đáo trong cách viết riêng của ảnh vừa bác học mà vừa bình dân, vừa kể chuyện mà cũng vừa viết truyện, vừa chua chát mà vừa dí dỏm, vừa trách hờn mà cũng vừa thương cảm những cảnh đời nữa nên tôi nghĩ văn Lưu Nhơn Nghĩa là một bức tranh đời cùng khắp những nơi anh đã đi qua và sống với nó như hình với bóng khó mà ai đủ tài năng vẻ lại những cảnh đời như anh ấy được anh Hai à! Thành ra, tôi chỉ còn biết bái phục một nhơn tài của vùng Tri Tôn-Xà Tón như ảnh mà tôi tin còn lâu lắm vùng đất heo hút này mới có được một người thứ hai như anh ấy.

Nhớ có lần anh có kể là anh đi thăm anh Lưu Nhơn Nghĩa tuốt dưới Brisbane, anh có thể nhắc lại chuyến đi này cho em út nghe chơi anh Hai. Có gì vui, có gì lạ và có gì làm anh còn nhớ tới bây giờ ?

HAP:

Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Nghe tin bệnh của anh Nghĩa không thuyên giảm và bệnh viện chưa tìm được tủy sống thích hợp để cấy trị bệnh cho anh, khoảng tháng 02/2006, tôi cùng với Giáo sư Trần Thiện Hiếu đi máy bay đến Brisbane thăm anh Nghĩa. Giáo Sư trước kia là Thầy dạy anh Nghĩa môn Việt Văn lớp Đệ Ngũ tại Trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc, hiện Thầy đang định cư tại Sydney, cách nhà tôi chừng năm phút lái xe.

Thầy Hiếu và tôi rất đỗi vui mừng khi gặp anh Nghĩa ra đón chúng tôi tại phi trường Brisbane. Tuy mặt anh Nghĩa hơi xanh -hình như da dẻ của anh lúc nào cũng vậy-nhưng anh có vẻ khỏe khoắn, linh hoạt và cười nói không dứt. Tôi nói như để ủy lạo anh: bữa nay coi anh khỏe ra! Anh cười: Mới vô máu thì khỏe vậy đó, gần tới ngày vô máu nữa thì bèo nhèo. Hôm đó là ngày Thứ sáu, anh Nghĩa đưa Thầy Hiếu và tôi về khách sạn nhận phòng, rồi anh nói xin phép đi ra Tòa làm thông dịch, xong anh sẽ trở lại. Thông dịch xong, anh quay trở lại khách sạn hàn huyên với Thầy Hiếu và tôi đến khuya.

Anh Nghĩa rất bận rộn, những ngày cuối tuần anh vẫn đi hội họp, làm Hiệu Trưởng một trường Việt ngữ, gồm 14 lớp, 240 học sinh, chia ra 9 cấp lớp (mở tại Trường Tiểu học công lập Darra State School). Học sinh học Việt ngữ mặc đồng phục, chào cờ và xếp hàng trước khi vào lớp, đang học thấy có khách đến, cả lớp nhất loạt đứng lên chào kính. Nhìn thấy sinh hoạt của các em, tôi nhớ lại tuổi học trò thời của anh em mình, công dân giáo dục và luân lý là môn học được xem trọng, đang đi trên đường gặp người già cả cũng giở nón cúi chào. Dạy học trò có nề nếp theo thuần phong mỹ tục ngày xưa như ở trường Việt Ngữ của anh Nghĩa thật là hiếm có.

Ngày Chủ nhật anh Nghĩa lái xe đưa Thầy Hiếu và tôi ra phi trường Brisbane để trở về Sydney. Giọng nói và nụ cười của anh Nghĩa vẫn còn in đậm trong tâm trí của tôi đến bây giờ.

Vào khoảng đầu hạ tuần tháng 09 năm 2007, anh Nghĩa gọi điện thoại cho tôi biết anh sẽ nhập viện trở lại và lần nầy có thể người ta sẽ hóa trị cho anh, một là anh sẽ khỏi, hai là anh sẽ đi luôn. Qua ngày sau tôi điện thoại vô bệnh viện, họ chuyển điện thoại cho anh, tôi hỏi thăm sức khỏe của anh và hỏi anh đang làm gì. Nghĩa trả lời bệnh viện đang xét nghiệm thêm gì đó, anh tận dụng thời gian trống, tiếp tục viết bài. Thật đáng bái phục! Anh đã làm việc và viết văn đến hơi thở cuối cùng!

HT:

Thưa anh Hai,

Quả đúng như anh nói, trong văn giới hiện nay tôi chỉ thấy có hai người “viết văn đến hơi thở cuối cùng”. Đó là nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa với “Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời” (3) và nhà văn Phạm Chi Lan với “Những Giấc Mơ Trong Bịnh Viện”(4). Theo tôi, đây là hai áng văn tuyệt tác chẳng những nó hay vì văn chương đã đành, mà nó còn là một vẻ đẹp tuyệt diệu ngời sáng do bởi tấm lòng, nghị lực và ý chí chống chọi của hai anh chị nhà văn với những cơn đau hành hạ bởi căn bệnh quái ác, cùng sự hung bạo của tử thần bằng những dòng chữ mang chứa những ý nghĩa cao đẹp cùng mầm sống trong mỗi nhà văn nó mãnh liệt biết bao!

Qua “Lời phân trần” trong cuốn Như Cánh Chuồn Chuồn, Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa viết: “Tôi không phải là nhà văn như vài người bạn vui đùa quá lời. Tôi viết vì ở thế cùng cực, như viết nhựt ký và hồi ký, để giải tỏa căn bịnh ẩn uất tâm lý, tôi mắc bịnh này từ nhỏ, đang lành bịnh khi xong nợ ngân hàng, bịnh lành hẳn, lúc đó hết luôn nghiệp văn.

Hỏi cây, hỏi thú
“Hết rồi !”
Hỏi chim, hỏi cá, hỏi người
“Còn đâu!”

Với tư cách một người bạn rất thân của anh Lưu Nhơn Nghĩa, anh nghĩ gì về “lời phân trần “ này của tác giả “Như Cánh Chuồn Chuồn” và “Con Đường Cũ”, thưa anh Hai?

HAP:

Thưa anh Hai,

Tôi mới làm bạn với anh Nghĩa chưa đầy hai mươi năm, tôi không biết hoàn cảnh thực tế của anh Nghĩa lúc còn trẻ, nhưng qua hai quyển truyện Như Cánh Chuồn Chuồn và Con Đường Cũ, cũng như nghe những lời tâm sự sau khi quen với anh, được tiếp xúc với anh, tôi thấy lời phân trần của anh Nghĩa là hết sức thành thật. Lúc còn nhỏ anh không thành công trong việc học như cha mẹ mong muốn, một tình cảm e ấp buổi đầu đời không thành, một cuộc sống dày dạn phong sương trước những éo le cay đắng của cuộc đời và của gia đình, những ngang trái đó anh bày tỏ cùng ai, nó đã trở thành những “ẩn uất tâm lý” nếu không có những bài nhựt ký và hồi ký làm lối thoát. Anh viết để giải tỏa những” ẩn uất”, anh không viết để trở thành một nhà văn, nhưng có lẽ nhờ những “ẩn uất” đó cộng thêm cái vốn liếng văn chương sẵn có trong tâm hồn anh, anh viết được những áng văn bất hủ để người đọc kính ngưỡng anh là một nhà văn. Anh hỏi cây, hỏi thú, hỏi người, anh tự trả lời “hết rồi”, “còn đâu”, anh cũng không còn, nhưng chỉ có vài ba ngày trước khi lâm chung, đang ở trong bệnh viện, anh cho tôi biết anh đang viết, như vậy tôi nghĩ nghiệp văn chương của anh chưa dứt và anh đã mang cái nghiệp đó theo anh qua bên kia.

HT:

Xin chân thành cảm ơn anh Hai An Phú đã chia sẻ những kỷ niệm cùng những suy nghĩ của anh dành cho một người bạn, nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, nhơn dịp kỷ niệm ngày giỗ thứ tư của tác giả “Như Cánh Chuồn Chuồn” và “Con Đường Cũ”. Những chi tiết anh kể chẳng những là những kỷ niệm giữa anh và Phong Hưng, mà nó còn là những tài liệu rất quý cho những nhà biên khảo hôm nay và sau này muốn tìm hiểu về một văn tài của vùng xà Tón- Tri Tôn với cái tên rất quen quen: “Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa,” nhưng nay đã ra người thiên cổ có tới bốn năm rồi !!!

Kính chúc anh chị Hai cùng gia đình dồi dào sức khỏe và vạn điều may mắn, an vui.

HAP:

Cảm ơn anh Hai có lòng đã tạo cơ hội cho tôi có dịp nhắc về một người bạn cùng trường, cùng cảnh ngộ tha hương và cùng có với nhau nhiều kỷ niệm khó quên ở những ngày tháng xa xứ và nhớ nhà này. Xin kínhchúc anh và chị Hai cùng gia đình mọi điều an lạc.

Trân trọng,

Hai An Phú

——

Cước chú:

1/ Như Cánh Chuồn Chuồn của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa do chùa Viên Giác, Đức quốc, xuất bản năm 2001.

2/ Nhằm tưởng nhớ nhà văn họ Lưu sau khi anh từ giã cõi đời, TSCĐ tuyển chọn và in thành sách các bài viết của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa trên trang nhà TSCĐ thành cuốn Con Đường Cũ tháng 12-2007

3/ “Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời” trên www.thasonchaudoc.com ngày 16-03-2007, sau in lại trong “Con Đường Cũ” như chú thích (2)

4/ “Những Giấc Mơ Trong Bịnh Viện” của Phạm Chi Lan đăng trên tạp chí văn chương Da Màu (www.damau.org) ngày 07 tháng Giêng năm 2009.

https://damau.org/21454/tro-chuyen-cung-anh-hai-an-phu-nhon-ngay-gio-thu-tu-cua-nha-van-phong-hung-luu-nhon-nghia

# Trò chuyện cùng anh Hai An Phú nhơn ngày giỗ thứ tư của nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa Hai Trầu ♦ 1 bình luận ♦ 27.09.2011 Lời giới thiệu của người thực hiện: Lúc thiếu thời, nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa cùng học trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) với anh Hai An Phú tức nhà văn Khiêm Cung Dương Văn Chung, dù khác niên học khá xa vì tuổi tác mỗi người có khác nhau, nhưng sau này khi cùng định cư tại Úc Đại Lợi, hai anh lại quen biết và gần gũi thân thiết với nhau. Nhơn dịp kỷ niệm ngày giỗ lần thứ tư của nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa,(mất ngày 27-9-2007), anh Hai An Phú có nhã ý nhắc lại vài kỷ niệm với người bạn năm xưa của mình qua buổi trò chuyện này. Xin được trân trọng giới thiệu cùng các bạn đọc xa gần… Trân trọng, Hai Trầu Kinh xáng Bốn Tổng, tháng 9 năm 2011 Hai Trầu (HT) Thưa anh Hai An Phú, Anh và nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa quen nhau hồi còn theo học trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) những năm 1950 hay mới quen nhau sau này, thưa anh Hai ? Anh Hai An Phú (HAP) Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng, Tôi học Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc đến hết lớp Đệ Tam (Niên khóa 1954/55), tôi đi Sài Gòn học, không biết anh Nghĩa nhập học Thủ Khoa Nghĩa năm nào, trước hay sau khi tôi đi Sài Gòn học. Do đó anh Nghĩa và tôi không có quen nhau lúc còn ở Việt Nam, nhưng có biết vợ chồng tôi là người Châu Đốc lớn tuổi hơn anh và là đồng môn Thủ Khoa Nghĩa đang định cư ở Sydney và đang làm công quả ở một chùa Phật, anh muốn tìm thăm. Khoảng năm 2003 (tôi nhớ không rõ), có một Sư Cô từ chùa Phước Huệ Sydney đi thăm các chùa ở Brisbane (Tiểu bang Queensland-Úc), gặp anh Nghĩa công quả ở một trong các chùa đó, anh Nghĩa hỏi thăm Sư Cô có người nào tên Chung và vợ là chị Phấn, người Châu Đốc, đang công quả ở chùa Phước Huệ không? Sư Cô nói không biết tên ngoài đời nhưng có cặp vợ chồng có pháp danh Thiện Châu và Huệ Ngọc, người Châu Đốc, đang công quả ở đó. Anh Nghĩa gởi Sư Cô tên, địa chỉ và số điện thoại của anh, nhờ Sư Cô đưa cho tôi và dặn nếu đúng là vợ chồng tôi thì liên lạc với anh, anh rất mong tiếp chuyện với chúng tôi. Chúng tôi quen biết nhau từ đó và liên lạc bằng thư từ và điện thoại nhắc lại nhiều kỷ niệm về Châu Đốc và trường cũ. Chính anh Nghĩa giới thiệu tôi mới biết có Trang nhà Thất Sơn Châu Đốc mà những người sáng lập là hai bạn đồng môn Đoàn Đông và Lộc Tưởng. HT: Thưa anh Hai An Phú, Trong những câu chuyện hai anh cùng nhắc lại, có câu chuyện nào mãi đến nay anh còn nhớ? Ngoài ra, lúc bấy giờ anh có biết anh Lưu Nhơn Nghĩa là nhà văn Phong Hưng chưa, thưa anh Hai ? HAP: Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng, Trước khi trả lời câu hỏi của anh Hai về những chuyện trao đổi giữa anh Nghĩa và tôi, tôi xin đính chánh lại về thời gian anh Nghĩa và tôi bắt đầu quen nhau, tôi nhớ lại là khoảng trên 15 năm rồi, như vậy là khoảng năm 1994-1995, không phải năm 2003. Đúng như anh Nghĩa có lần nhìn nhận trong Những Mảnh Vụn Cuộc Đời, anh là một người già chuyện, mỗi khi điện cho tôi, hai đứa nói với nhau “gần cháy máy điện thoại”, anh nói chuyện rất vui, rất hấp dẫn, rất chân tình. Mặc dầu là đồng môn Thủ Khoa Nghĩa, nhưng không đồng thời, nên chẳng có nhiều kỷ niệm chung nơi trường cũ, quý vị Hiệu Trưởng và quý Thầy Cô thời tôi học hầu hết đã rời khỏi trường trước khi anh Nghĩa đến học. Lúc trò chuyện với nhau, có lẽ Nghĩa cũng như tôi đều mường tượng đến một ngôi trường cũ ở một tỉnh giáp biên giới Miên, từ văn phòng cho đến các dãy lớp học, từ cái cổng trường cho đến cây cột cờ. Anh cũng đưa tôi đi trên “Con Đường Cũ”, con đường Bảo Hộ Thoại có dãy phố công chức mà anh và vợ chồng tôi đã từng sống ở đó. Nghĩa ở trọ nhà Thầy Giáo Khá, mấy căn kế cận có nhà Ông Đốc Đồng, Nhà Thầy Phương, Thầy Rớt…v.v. Đi tới một chút nữa, bỏ một con đường nhỏ thì tới dẫy phố Ông Bà nhạc của tôi ở, lân cận có nhà Thầy Giáo Tỵ; Thầy Ba Minh và Thầy Ba Ngươn làm việc ở Tòa Bố (Tòa Hành Chánh Tỉnh), Ông Bác Vật (Kỹ sư) Kim tức là Thầy Trần Sun, thầy dạy chúng tôi ở trường Thủ Khoa Nghĩa, Thầy Ba Thoại làm việc ở Ty Nông Nghiệp, còn Ông nhạc của tôi là Thầy Hai Tấn làm ở Nhà Thương (Bệnh viện) Châu Đốc. Làm sao tôi quên được con đường Bảo Hộ Thoại mà vợ chồng tôi có nhiều kỷ niệm từ lúc mới quen nhau cho đến khi thành vợ thành chồng. Anh Nghĩa là người đi săn tìm kỷ niệm, anh thường hỏi tôi về những ngày xa lắt xa lơ. Sau khi mẫu thân của anh Nghĩa mất tại Úc, anh đem tro cốt về quê nhà, anh có đến thăm ngôi trường Thủ Khoa Nghĩa, anh muốn chụp hình ngôi trường để làm kỷ niệm, người giữ trường không cho và nói rằng trường đã quá cũ, xấu xí, anh chụp hình đem ra nước ngoài, người ta sẽ khinh nước mình nghèo, anh Nghĩa thăm Tri Tôn (Xà-Tón) thì cảnh đã quá đổi thay, anh không còn nhận ra vị trí ngôi nhà cũ của anh, phố xá hoàn toàn khác, người cao tuổi đã chết, tốp trẻ thì anh không quen. Khi trở qua Úc anh than với tôi: Về quê nhà, tôi hăm hở đi tìm kỷ niệm, nhưng đã thất vọng não nề, mọi việc đều xa lạ. Tôi rất thông cảm với Nghĩa, năm 2007 trong chuyến về thăm Việt Nam, tôi ghi tên đi du ngoạn Hà Tiên, mục đích để có dịp gợi lại những kỷ niệm cũ ở những nơi tôi đã từng sống: con đường về miền Tây qua cây cầu Bến Lức một chiều, ở hai đầu cầu có bán khóm ngọt lịm như rim đường, qua Trung Lương có quán hủ tiếu Mỹ Tho, Bắc Mỹ Thuận phải chờ đò, hàng quán mua bán tấp nập…, qua Long Xuyên đến Châu Đốc quê tôi, tôi ước mơ nhìn lại dãy phố Bảo Hộ Thoại ngày xưa, rồi con đường vào Núi Sam mà hai bên đường nhà cửa lưa thưa, ngồi trên xe sẽ nhìn thấy được nước ruộng hai bên bờ, rồi đến Núi Sam với Miểu Bà Chúa Xứ, qua Nhà Bàng, Núi Két đến Văn Giáo, Chợ Voi, rồi đến Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng, nơi tôi từng làm việc trong thời gian tại ngũ, Hà Tiên là nơi vợ chồng tôi đến thăm sau ngày cưới. Tôi cũng thất vọng như anh Nghĩa: Cầu Bến lức bây giờ hai chiều, xe chạy thông thương ít khi dừng lại để khách mua khóm ngọt, Trung Lương bây giờ cất lại mới, cầu Mỹ Thuận thay cho bến Bắc, hàng quán và mấy chiếc bắc bây giờ còn đâu, không còn nghe tiếng rao hàng lảnh lót, Long Xuyên phố xá tráng lệ, khang trang, nhà lồng chợ Châu Đốc vẫn còn cũ kỷ như xưa, nhà cửa xây cất lại, dãy phố Bảo Hộ Thoại đổi khác, đường vào Núi Sam nhà cửa bít kín hai bên đường, Miểu Bà bây giờ là khu thương mại tấp nập, cây cối và nhà cửa sầm uất che mất Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng. Hỏi Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng cũ ở chỗ nào thì lơ xe trả lời chỗ bảng “Quân Đội Nhân Dân” vừa chạy qua khỏi, đi vào sâu phía trong, bến Đò Tô Châu một cái tên thân thương và thơ mộng ở Hà Tiên bây giờ không còn nữa, thay vào đó là một cây cầu. Tôi cũng thất vọng như anh Nghĩa, hai đứa tôi đều có chung cái cảm giác ngỡ ngàng trước những đổi thay giống như hai chàng Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai trở về. Thưa anh Hai, Lúc mới quen anh Nghĩa tôi không biết anh ấy viết văn. Dần dần anh gởi cho tôi những truyện ngắn anh viết, viết tay hoặc đánh máy, ký tên Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa. Vợ chồng tôi và sắp nhỏ thích đọc truyện ngắn của anh, vì lối văn binh dân của anh dễ thấm nhập vào tâm hồn của những người xuất thân từ nông thôn như chúng tôi. Tôi thường nói Nghĩa là cháu ruột của Hồ Biểu Chánh. Đến năm 2001, Nghĩa tặng tôi quyển Như Cánh Chuồn Chuồn, các con tôi chuyền tay nhau đọc. HT: Thưa anh Hai An Phú, Là một người đồng hương, cùng trường, cùng xa cố hương, cùng có ý tìm về cái cũ hầu tìm lại chút hình bóng xưa vào những ngày còn ngụ cư nơi con đường Bảo Hộ Thoại, Châu Đốc, một thời tuổi học trò ấy và rồi anh không vui vì thời gian và cảnh đời dời đổi quá nhiều. Nhưng khi anh đọc văn của anh Lưu Nhơn Nghĩa anh rất thích như anh tâm sự:"Vợ chồng tôi và sắp nhỏ thích đọc truyện ngắn của anh, vì lối văn binh dân của anh dễ thấm nhập vào tâm hồn của những người xuất thân từ nông thôn như chúng tôi.". Vậy, thưa anh Hai, qua các truyện ngắn và bút ký trong hai tác phẩm Như Cánh Chuồn Chuồn (1) và Con Đường Cũ (2), xin anh Hai có thể kể cho biết anh mê nhất truyện nào và vì sao thưa anh ? HAP: Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng, Tôi rất khó trả lời câu hỏi của anh Hai: qua các truyện ngắn và bút ký trong hai tác phẩm Như Cánh Chuồn Chuồn và Con Đường Cũ, tôi mê nhất truyện nào và vì sao? Khó trả lời là vì truyện nào tôi cũng mê, mỗi truyện có cái đặc sắc của nó, cứ để thử hai truyện nào đó lên hai bàn tay để cân hạo, khó kết luận truyện nào nặng hơn, ví dụ trong Như Cánh Chuồn Chuồn, Chuyến Xe Cuối Năm, tôi xem là tiểu thuyết vì có nhiều chỗ hư cấu, trong đó nhân vật chánh là Chú Bảy Tề tài xế, từng trải việc đời, có tay nghề, hào hoa phong nhã, tằng tịu với Cô Út, “khách bộ hiền”, chở hàng đi bán; về sau già yếu, lụt nghề, bị chủ xe bỏ rơi, người yêu rời xa, lơ xe cũng ăn hiếp, “nhà sập bìm bìm leo” mà “bìm bìm leo thì hắc sửu cũng leo”, tôi nói truyện này hay vì nội dung câu chuyện rất sát với đời thường, lại còn đệm thêm nhiều câu hát huê tình rất đúng chỗ. Nhưng tôi lại chọn truyện Như Cánh Chuồn Chuồn hơn vì nó phản ảnh gần một nửa cuộc đời lêu lỏng của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, Nghĩa như con cóc, bị Ông thân bắt bỏ trong cái dĩa, mới để vào cái dĩa, con cóc lại nhảy ra, mới được đưa vào học ở trường Hoa, bắn nạng dàng thung gây thương tích cho học sinh trường khác, bị đuổi học, Ông già đưa vào học chữ Miên rồi cũng nghỉ, đưa qua học chữ Pháp, chữ Việt thì rớt lên rớt xuống, thi sáu lần không đậu bằng Trung học đệ nhất cấp…; đặc biệt trong truyện có mối tình e ấp giữa Lưu Nhơn Nghĩa và cô bạn học người Hoa ở tiệm đối diện tên Thục Linh, đẹp và khả ái, có duyên với nhau nhưng không có nợ; trong truyện nầy, tác giả có những cú pháp rất chuẩn xác, như: Bầm dập cuộc đời...(trang 5/6) Tả lúc Thục Linh dẫn ba đứa con nhỏ đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung thăm chồng đi quân dịch, khi ra về tay ẵm tay bồng, mà còn một đứa níu vạt áo chạy theo, Trung Úy Nghĩa hào hiệp tiếp cõng một đứa đưa lên xe lam, Thục Linh và Nghĩa mới bất chợt nhận ra nhau, ngỡ ngàng, Nghĩa viết: “Khách bộ hành xô đẩy ba mẹ con Thục Linh vào trong xe nổ máy ầm ầm chạy khỏi bến. Thục Linh ôm ba con cúi đầu chào, tôi bất giác cúi chào lại, cả hai cúi chào duyên số hẩm hiu” (Trang 5/6). Tả lúc Ông Thoại Ký, cha của Thục Linh, khổ sở vì phải hối lộ dài dài cho cảnh sát, quân cảnh… để lo cho chồng Thục Linh đào ngũ, Nghĩa viết: “Ông lắc đầu, uống ngụm cà phê đen, nhìn ông thân tôi, nuốt cà phê như nuốt hận vào lòng:-Phải mình là xin kê, tôi đâu có lo lính tráng cho thằng Din Nghĩ?” (Trang 6/6). Như Cánh Chuồn Chuồn đã ghi lại hơn một phần ba cuộc đời của Lưu Nhơn Nghĩa, từ niên thiếu đến tuổi biết yêu, anh nói tất cả những khuyết điểm của mình như một con chiên xưng tội, tôi mến phục Lưu Nhơn Nghĩa ở cái tánh chân thật của anh. Nếu chọn Như Cánh Chuồn Chuồn mà không chọn Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời trong quyển Con Đường Cũ (trang 177-185) sẽ bị trách là không đầu không đuôi. Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời là bài mà tôi mê nhất đó anh Hai, vì: Tôi chưa từng thấy ai binh tĩnh như Lưu Nhơn Nghĩa trước cái chết gần kề; anh chuẩn bị dời về căn nhà cũ gần thành phố, nhìn từng đồ vật mà anh tích tụ bấy lâu, từ phim ảnh, dĩa nhạc đến sách truyện, anh nhớ từng nhân vật trong phim, trong truyện, anh phê binh các bản dịch thơ phú, văn chương, hiểu biết của anh quá sâu rộng qua những tác phẩm viết bằng Anh, Pháp, Việt và Hán. Anh nhìn 78 cuốn nhựt ký và bao nhiêu vật kỷ niệm trong cuộc đời, anh không biết thứ nầy cho ai, thứ kia tặng ai; bao nhiêu chuyện quá khứ hiện về, thành có, bại có, nên có, hư có, rồi anh thành tâm sám hối: “Sinh vùng quê nghèo, lớn lên thiếu sức khỏe, 11 tuổi xa quê tới nay, thiếu không khí và giáo dục gia đình. Suốt bao nhiêu năm sống, đủ hỷ nộ ái ố, tham sân si. Tính tôi đơn giản, nông cạn, kém thông minh, học rất chậm mà siêng năng, không ưa danh vọng, chỉ ham sắc, ham tiền và du lịch. Lúc thì mặc cảm lẫn tránh, lúc thì nông nỗi, tự cao tự đại, mục hạ vô nhân, lúc ti tiện từng xu, lúc xài vô lối, tính bất thường, nhiều người ơn kẻ oán, thù chắc không có. Trước khi đi, còn nhớ, xin thế gian quên cho những lỗi lầm vô tình hay cố ý, cám ơn ân nhân giúp đỡ khi túng bấn, nguyện trả khi có cơ hội kiếp lai sinh.” Thật là vẹn tròn, còn ai nỡ hờn ghét gì anh nữa? Anh nói: “Ngày đi đầu thai, biết về đâu? Về VN là hết hy vọng, ai bảo lãnh qua ngoại quốc. Nghiệp dẫn đi đâu, làm đơn gởi xin được thác về làng Muruparra Bắc New Zealand vắng vẻ, đào củ kumera nung đá, thành món hangi thơm mùi khói, ăn no, chạy chơi thong dong qua cánh rừng thưa bạt ngàn.” Sau cùng với tư tưởng Phật giáo, anh niệm câu chú trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, nguyện được đến bờ giác bên kia: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế bồ đề tát bà ha.” Hy vọng anh Nghĩa được toại nguyện. Còn anh thì anh mê truyện nào của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, anh Hai? HT: Rất cảm ơn anh Hai chia sẻ vài cảm nhận qua các truyện của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, những nhận xét rất khách quan mà gần gũi, rất thân thiết mà trung thực. Riêng tôi, cùng tuổi già như anh Hai, cùng nhớ về một thời quê nghèo, cùng thương mến sông nước vùng mình và nhứt là cùng lận đận trong những ngày còn nhỏ học hành trễ nải, rồi cứ rớt lên rớt xuống nhiều keo, nên tôi rất cảm thông với những đoạn đời nhiều nhiêu khê qua những mùa thi cử ấy của anh Lưu Nhơn Nghĩa. Nhưng tôi dở hơn anh Lưu Nhơn Nghĩa nhiều vì thời tiểu học rồi trung học anh ấy lận đận như vậy nhưng nhờ ý chí vươn lên, nhờ trời phú cho tính nhớ dai và nhờ thông thái ở những ngày học đại học nên anh ra trường với bằng Đại học Sư Phạm và bằng Cử nhân Anh Văn, những mảnh bằng rất mực hiếm hoi lúc bấy giờ và cả sau này khi tôi vào đời, quả là một điều mà tôi vô cùng nể phục. Anh ấy xứng đáng là bậc thầy của tôi đó anh Hai. Còn văn anh Lưu Nhơn Nghĩa thì khó so sánh với ai vì cái nét độc đáo trong cách viết riêng của ảnh vừa bác học mà vừa bình dân, vừa kể chuyện mà cũng vừa viết truyện, vừa chua chát mà vừa dí dỏm, vừa trách hờn mà cũng vừa thương cảm những cảnh đời nữa nên tôi nghĩ văn Lưu Nhơn Nghĩa là một bức tranh đời cùng khắp những nơi anh đã đi qua và sống với nó như hình với bóng khó mà ai đủ tài năng vẻ lại những cảnh đời như anh ấy được anh Hai à! Thành ra, tôi chỉ còn biết bái phục một nhơn tài của vùng Tri Tôn-Xà Tón như ảnh mà tôi tin còn lâu lắm vùng đất heo hút này mới có được một người thứ hai như anh ấy. Nhớ có lần anh có kể là anh đi thăm anh Lưu Nhơn Nghĩa tuốt dưới Brisbane, anh có thể nhắc lại chuyến đi này cho em út nghe chơi anh Hai. Có gì vui, có gì lạ và có gì làm anh còn nhớ tới bây giờ ? HAP: Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng, Nghe tin bệnh của anh Nghĩa không thuyên giảm và bệnh viện chưa tìm được tủy sống thích hợp để cấy trị bệnh cho anh, khoảng tháng 02/2006, tôi cùng với Giáo sư Trần Thiện Hiếu đi máy bay đến Brisbane thăm anh Nghĩa. Giáo Sư trước kia là Thầy dạy anh Nghĩa môn Việt Văn lớp Đệ Ngũ tại Trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc, hiện Thầy đang định cư tại Sydney, cách nhà tôi chừng năm phút lái xe. Thầy Hiếu và tôi rất đỗi vui mừng khi gặp anh Nghĩa ra đón chúng tôi tại phi trường Brisbane. Tuy mặt anh Nghĩa hơi xanh -hình như da dẻ của anh lúc nào cũng vậy-nhưng anh có vẻ khỏe khoắn, linh hoạt và cười nói không dứt. Tôi nói như để ủy lạo anh: bữa nay coi anh khỏe ra! Anh cười: Mới vô máu thì khỏe vậy đó, gần tới ngày vô máu nữa thì bèo nhèo. Hôm đó là ngày Thứ sáu, anh Nghĩa đưa Thầy Hiếu và tôi về khách sạn nhận phòng, rồi anh nói xin phép đi ra Tòa làm thông dịch, xong anh sẽ trở lại. Thông dịch xong, anh quay trở lại khách sạn hàn huyên với Thầy Hiếu và tôi đến khuya. Anh Nghĩa rất bận rộn, những ngày cuối tuần anh vẫn đi hội họp, làm Hiệu Trưởng một trường Việt ngữ, gồm 14 lớp, 240 học sinh, chia ra 9 cấp lớp (mở tại Trường Tiểu học công lập Darra State School). Học sinh học Việt ngữ mặc đồng phục, chào cờ và xếp hàng trước khi vào lớp, đang học thấy có khách đến, cả lớp nhất loạt đứng lên chào kính. Nhìn thấy sinh hoạt của các em, tôi nhớ lại tuổi học trò thời của anh em mình, công dân giáo dục và luân lý là môn học được xem trọng, đang đi trên đường gặp người già cả cũng giở nón cúi chào. Dạy học trò có nề nếp theo thuần phong mỹ tục ngày xưa như ở trường Việt Ngữ của anh Nghĩa thật là hiếm có. Ngày Chủ nhật anh Nghĩa lái xe đưa Thầy Hiếu và tôi ra phi trường Brisbane để trở về Sydney. Giọng nói và nụ cười của anh Nghĩa vẫn còn in đậm trong tâm trí của tôi đến bây giờ. Vào khoảng đầu hạ tuần tháng 09 năm 2007, anh Nghĩa gọi điện thoại cho tôi biết anh sẽ nhập viện trở lại và lần nầy có thể người ta sẽ hóa trị cho anh, một là anh sẽ khỏi, hai là anh sẽ đi luôn. Qua ngày sau tôi điện thoại vô bệnh viện, họ chuyển điện thoại cho anh, tôi hỏi thăm sức khỏe của anh và hỏi anh đang làm gì. Nghĩa trả lời bệnh viện đang xét nghiệm thêm gì đó, anh tận dụng thời gian trống, tiếp tục viết bài. Thật đáng bái phục! Anh đã làm việc và viết văn đến hơi thở cuối cùng! HT: Thưa anh Hai, Quả đúng như anh nói, trong văn giới hiện nay tôi chỉ thấy có hai người “viết văn đến hơi thở cuối cùng”. Đó là nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa với “Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời” (3) và nhà văn Phạm Chi Lan với “Những Giấc Mơ Trong Bịnh Viện”(4). Theo tôi, đây là hai áng văn tuyệt tác chẳng những nó hay vì văn chương đã đành, mà nó còn là một vẻ đẹp tuyệt diệu ngời sáng do bởi tấm lòng, nghị lực và ý chí chống chọi của hai anh chị nhà văn với những cơn đau hành hạ bởi căn bệnh quái ác, cùng sự hung bạo của tử thần bằng những dòng chữ mang chứa những ý nghĩa cao đẹp cùng mầm sống trong mỗi nhà văn nó mãnh liệt biết bao! Qua “Lời phân trần” trong cuốn Như Cánh Chuồn Chuồn, Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa viết: “Tôi không phải là nhà văn như vài người bạn vui đùa quá lời. Tôi viết vì ở thế cùng cực, như viết nhựt ký và hồi ký, để giải tỏa căn bịnh ẩn uất tâm lý, tôi mắc bịnh này từ nhỏ, đang lành bịnh khi xong nợ ngân hàng, bịnh lành hẳn, lúc đó hết luôn nghiệp văn. … Hỏi cây, hỏi thú “Hết rồi !” Hỏi chim, hỏi cá, hỏi người “Còn đâu!” Với tư cách một người bạn rất thân của anh Lưu Nhơn Nghĩa, anh nghĩ gì về “lời phân trần “ này của tác giả “Như Cánh Chuồn Chuồn” và “Con Đường Cũ”, thưa anh Hai? HAP: Thưa anh Hai, Tôi mới làm bạn với anh Nghĩa chưa đầy hai mươi năm, tôi không biết hoàn cảnh thực tế của anh Nghĩa lúc còn trẻ, nhưng qua hai quyển truyện Như Cánh Chuồn Chuồn và Con Đường Cũ, cũng như nghe những lời tâm sự sau khi quen với anh, được tiếp xúc với anh, tôi thấy lời phân trần của anh Nghĩa là hết sức thành thật. Lúc còn nhỏ anh không thành công trong việc học như cha mẹ mong muốn, một tình cảm e ấp buổi đầu đời không thành, một cuộc sống dày dạn phong sương trước những éo le cay đắng của cuộc đời và của gia đình, những ngang trái đó anh bày tỏ cùng ai, nó đã trở thành những “ẩn uất tâm lý” nếu không có những bài nhựt ký và hồi ký làm lối thoát. Anh viết để giải tỏa những” ẩn uất”, anh không viết để trở thành một nhà văn, nhưng có lẽ nhờ những “ẩn uất” đó cộng thêm cái vốn liếng văn chương sẵn có trong tâm hồn anh, anh viết được những áng văn bất hủ để người đọc kính ngưỡng anh là một nhà văn. Anh hỏi cây, hỏi thú, hỏi người, anh tự trả lời “hết rồi”, “còn đâu”, anh cũng không còn, nhưng chỉ có vài ba ngày trước khi lâm chung, đang ở trong bệnh viện, anh cho tôi biết anh đang viết, như vậy tôi nghĩ nghiệp văn chương của anh chưa dứt và anh đã mang cái nghiệp đó theo anh qua bên kia. HT: Xin chân thành cảm ơn anh Hai An Phú đã chia sẻ những kỷ niệm cùng những suy nghĩ của anh dành cho một người bạn, nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, nhơn dịp kỷ niệm ngày giỗ thứ tư của tác giả “Như Cánh Chuồn Chuồn” và “Con Đường Cũ”. Những chi tiết anh kể chẳng những là những kỷ niệm giữa anh và Phong Hưng, mà nó còn là những tài liệu rất quý cho những nhà biên khảo hôm nay và sau này muốn tìm hiểu về một văn tài của vùng xà Tón- Tri Tôn với cái tên rất quen quen: “Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa,” nhưng nay đã ra người thiên cổ có tới bốn năm rồi !!! Kính chúc anh chị Hai cùng gia đình dồi dào sức khỏe và vạn điều may mắn, an vui. HAP: Cảm ơn anh Hai có lòng đã tạo cơ hội cho tôi có dịp nhắc về một người bạn cùng trường, cùng cảnh ngộ tha hương và cùng có với nhau nhiều kỷ niệm khó quên ở những ngày tháng xa xứ và nhớ nhà này. Xin kínhchúc anh và chị Hai cùng gia đình mọi điều an lạc. Trân trọng, Hai An Phú —— Cước chú: 1/ Như Cánh Chuồn Chuồn của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa do chùa Viên Giác, Đức quốc, xuất bản năm 2001. 2/ Nhằm tưởng nhớ nhà văn họ Lưu sau khi anh từ giã cõi đời, TSCĐ tuyển chọn và in thành sách các bài viết của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa trên trang nhà TSCĐ thành cuốn Con Đường Cũ tháng 12-2007 3/ “Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời” trên www.thasonchaudoc.com ngày 16-03-2007, sau in lại trong “Con Đường Cũ” như chú thích (2) 4/ “Những Giấc Mơ Trong Bịnh Viện” của Phạm Chi Lan đăng trên tạp chí văn chương Da Màu (www.damau.org) ngày 07 tháng Giêng năm 2009. https://damau.org/21454/tro-chuyen-cung-anh-hai-an-phu-nhon-ngay-gio-thu-tu-cua-nha-van-phong-hung-luu-nhon-nghia

Bắc Nam phảng phất nụ cười: trò chuyện cùng anh Hai An Phú

Lương Thư Trung

https://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/bm%2022-6-22_files/image002.jpg

Bìa tuyển tập truyện ngắn

Nội Ngoại Đều Thương

của Khiêm Cung Dương Văn Chung
(nxb Quán Âm Sơn: Tân Tây Lan, 2009)

Lời giới thiệu của Hai Trầu: Anh Hai An Phú tên thật là Dương Văn Chung, bút hiệu Khiêm Cung, tuổi Ất Hợi, sanh quán tại làng Bắc Nam, quận An Phú, tỉnh Châu Đốc, hiện định cư tại Sydney, Úc Đại Lợi, tác giả tập truyện Nội Ngoại Đều Thương do nhà xuất bản Quán Âm Sơn (Tân Tây Lan) ấn hành năm 2009.

Viết về vùng quê Thất Sơn Mầu Nhiệm ngày xưa, không ai qua nổi học giả Nguyễn Văn Hầu; viết về vùng Tân Châu ngày trước, không ai qua nổi bậc tiền bối Nguyễn Văn Kiềm; còn viết về vùng Xà Tón (Tri Tôn) chắc chắn không ai qua nổi nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa; nhưng viết về vùng Bắc Nam, Vĩnh Trường, Đồng Cô Ky, Đồng Đức Thượng với những mùa cá tôm, chim chóc, lúa thóc chín vàng đồng, tôi tin không ai qua nổi nhà văn Khiêm Cung Dương Văn Chung.

Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn những mẩu trò chuyện cùng tác giả Nội Ngoại Đều Thương dưới đây, qua những mùa màng vùng sông nước Bắc Nam thuộc quận An Phú, tỉnh Châu Đốc, cách nay có gần bảy tám chục năm xa xưa ấy. Hy vọng chia sẻ cùng các bạn một chút tình quê qua những câu chuyện kể của người già còn nặng lòng với chốn cũ một thời….

Trân trọng

Hai Trầu

Kinh xáng Bốn Tổng ngày 06-06-2011

Hai Trầu (HT):

Kính thăm anh Hai An Phú,

Được biết anh Hai có kể chuyện trong cuốn sách Nội Ngoại Đều Thương, anh ký tên Khiêm Cung. Xin anh Hai hôm nào rảnh anh kể chút xíu về bút hiệu Khiêm Cùng này nghe chơi anh Hai.

Hai An Phú (HAP):

Kính Anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Khi tôi gởi truyện ngắn đầu tiên “Một chuyến vượt biên” để xin đăng trên Văn Nghệ Tuần Báo phát hành tại Sydney, tôi lấy bút hiệu là Vi Trần, vì tôi khiêm nhường ví phận mình bé bỏng, không đáng quan tâm, như một hột bụi ở thế gian. Nhà văn Hồ Ông, Chủ bút Văn Nghệ Tuần báo, trước khi đăng, có nhắn tin cho tôi nơi Mục Thư Qua Tin Lại rằng từ trước đã có người lấy bút hiệu Vi Trần rồi, tôi nên chọn bút hiệu khác, bằng không thì những đứa con tinh thần do mình mang nặng đẻ đau trở thành con của người khác. Tiếc bút hiệu Vi Trần lắm, nhưng vì sợ mất con, tôi đành chọn một bút hiệu khác, Khiêm Cung. Khiêm Cung vừa là bút hiệu vừa là phương châm tôi áp dụng trong cuộc sống, luôn luôn khiêm tốn và hòa nhã, lễ độ, kính nhường người khác. Cố gắng thực hành theo phương châm, nhưng thật tình mà nói, vì là phàm phu, tạp khí tích lũy từ nhiều đời, lửa sân vẫn chưa tắt hẳn, anh Hai ơi.

HT:

Rất cảm ơn anh Hai cắt nghĩa rành mạch bút danh Khiêm Cung. Trong Nội Ngoại Đều Thương anh Hai có nhắc lại làng quê của anh qua cái tựa “Làng Tôi” anh viết:

Tôi sanh ra tại làng Bắc Nam. Hiện nay mồ mả ông bà tôi vẫn còn tại đó. Làng này thuộc lãnh thổ Miên, còn gọi là làng Đồng Đức Thượng, giáp ranh với làng Đồng Đức Hạ bấy giờ thuộc tỉnh Châu Đốc, Việt Nam. Từ chợ Châu Đốc lên Nam Vang qua ngã Bình Di, đi bằng đường thủy được khoảng mười lăm ki lô mét, bạn sẽ gặp một chỗ đất bồi thành cù lao rất lớn ở giữa sông gọi là Cù lao Ba tại làng Vĩnh Trường, tiếp tục đi khoảng mười lăm ki lô mét nữa lại gặp một cái cồn gọi là Cồn Cát, rồi đến Cồn Bắc Nam. Một con sông nhỏ hiền hòa chảy qua Bắc Nam, trước khi đổ ra sông cái. Cửa sông nhỏ này ngó ra Cồn Bắc Nam. Dân trong làng thường phân biệt làng Bắc Nam thành hai xóm: xóm trong gần nguồn sông, người Miên ở; xóm ngoài là khu vực vàm sông, giáp mối giữa sông nhỏ và sông cái, nơi định cư của người Việt và người Hoa. Lúc bấy giờ Việt-Miên-Lào là ba nước Đông Dương thuộc Pháp. Người Việt và người Miên sống với nhau rất hòa thuận(1).

Xin anh vui lòng cho biết thêm chi tiết về bối cảnh lịch sử thời niên thiếu của anh.

https://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/bm%2022-6-22_files/image004.jpg

Bản đồ Nam Kỳ (Cochinchina) vào năm 1942 (nguồn: Mạnh Hải’s Photostream)

HAP:

Tôi xin hồi đáp anh Hai Trầu một số chi tiết liên quan đến làng Bắc Nam của tôi:

Khoảng cuối thập niên 40, gia đình tôi dọn lên một chiếc ghe, chèo chống đi vô vùng rạch Miên, địa danh là Hà Rùm để làm nghề cá mắm. Ở Hà Rùm được hơn một năm, gia đình tôi quay trở về làng Bắc Nam. Lúc bấy giờ cha tôi còn bới tóc vì ông theo quan niệm xưa, tóc là của cha mẹ sanh ra, để tóc là thờ kính ông bà, cha mẹ. Trên đường từ Hà Rùm về, Ông Nội tôi nhắn rằng Ông cho phép cha tôi hớt tóc ngắn, vì tên cò tây trú đóng ở Vàm Bắc Nam nói ai để tóc là Phật Giáo (Phật Giáo Hòa Hảo). Lúc đó người Pháp bắt đầu lo sợ người Việt Nam nổi loạn, họ sợ Việt Minh, họ sợ Hòa Hảo. Ông Nội cũng cho biết chú Út tôi bị tên cò tây nghi ngờ là Việt Minh nên bắt chú vào đồn đánh đập khảo tra, nhưng sau đó được thả ra, còn nhà của cha tôi bỏ trống, cò tây sợ là nơi trú ẩn của Việt Minh nên đốt rụi.

Trở về đến Bắc Nam, gia đình tôi tiếp tục ở dưới ghe, tôi thấy thanh niên trong làng lén lút luyện tập võ nghệ, học đường quyền, đường roi, múa kiếm, múa thương…, họ tập diễn hành với tầm vông vạc nhọn. Cảnh tượng na ná như trong các truyện Tàu mà lúc lên sáu, lên bảy tôi đã đọc cho ông Cố tôi nghe. Rồi một ngày nọ, tôi thấy tên cò tây vẫn mặc áo sơ-mi, quần sọt trắng, đội nón cối trắng, hai tay bị trói, mình mẩy lấm lem bùn đất, bị thanh niên bắt dẫn đi trên đường, tôi không biết người ta giải y đi đâu, y có bị đưa đi “mò tôm” hay không. Tôi tưởng đâu sự cai trị của người Pháp đã chấm dứt rồi, nhưng sau đó người Pháp một lần nữa trở lại trú đóng tại làng tôi.

HT:

Thưa anh Hai An Phú,

Hồi nhỏ nghe nói đến Tây là đã sợ rồi, nay nhơn anh Hai nhắc ông nội của anh cho phép thân phụ của anh cắt tóc ngắn vì sợ Tây tưởng mình là Phật Giáo Hòa Hảo rồi bắt chặt đầu, chỉ tưởng tượng thôi mà đã tản thần hồn rồi anh Hai. Nhờ anh giải thích mà tôi biết thêm khá bộn làng quê Bắc Nam của anh ngày xưa ấy.

HAP:

Hồi còn nhỏ, đi theo cha tôi vào một cái chùa Miên, tôi thấy trên tường có treo một bức tranh vẽ 3 người Miên châu đầu vào nhau, một cái nồi nước bắc lên trên 3 cái đầu đó, rồi đốt lửa lên nấu nước, một người “An Nam” (tên nước Việt Nam thời Pháp thuộc) đứng coi nấu nước, phía dưới bức tranh ghi lời nói: “Đừng nhúc nhích đổ nước của ông”. Theo các bậc tuổi tác, bức tranh đó do người Pháp vẽ để nhắc nhở, khích động người Miên căm thù người Việt đối xử tàn nhẫn với người Miên khi xăm chiếm nước họ. Đến thời Việt Minh, người Việt và người Miên trong làng cũng có xích mích nho nhỏ. Một bữa tôi thấy một toán thanh niên Miên trong làng, không rõ có phải do người Pháp xúi giục hay không, đeo cà tha (bùa Miên), nói súng bắn không lủng, ồn ào kéo đi đánh Việt Minh. Việt Minh cho nổ một phát súng (có lẽ tự chế), cả đám người Miên xanh mặt xanh mày bỏ chạy.

HT:

Rồi sao gia đình anh lại phải dời khỏi làng Bắc Nam, và về đâu anh Hai?

HAP:

Năm 1948, nhân chuyến đi bán xoài, mẹ và chị tôi đưa tôi ra tỉnh lỵ Châu Đốc học, gia đình tôi vẫn còn ở trên chiếc ghe và luôn luôn ở tư thế hễ yên thì ở, không yên thì chèo chống đi tản cư. Lúc bãi trường tôi có về thăm gia đình tại Bắc Nam. Tôi không nhớ chính xác năm nào, có lẽ năm 1950, gia đình tôi tản cư về quê ngoại ở An Phú, Châu Đốc; một số đồng hương vẫn còn tiếp tục cư ngụ ở Bắc Nam, vì họ coi Bắc Nam là quê cha đất tổ.

https://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/bm%2022-6-22_files/image008.jpg

Bản đồ huyện An Phú,thuộc tỉnh An Giang,nơi gia đình tác giả Khiêm Cung Dương văn Chung sinh sống trong thập niên 1950: đây cũng là nơi tiếp nhận dòng chảy đầu tiên của sông Hậu từ Campuchia vào Việt Nam.

HT:

Và anh còn nhớ năm nào làng Bắc Nam này lại thuộc hẳn bên Miên?

HAP:

Đến năm 1954, Pháp rút quân, khối Đông Dương gồm 3 nước Việt-Miên-Lào tan rã, có lẽ từ lúc đó người Việt mới hoàn toàn rời khỏi Bắc Nam vì sợ Miên “cáp duồn” (chặt đầu người Việt).

HT:

Từ bấy đến nay, có lần nào anh Hai về lại Cồn Bắc Nam thăm lại mộ phần ông bà không?

HAP:

Năm 2007 tôi có về Cồn Bắc Nam thăm đình làng mà bà con đã dời từ làng Bắc Nam về đó. Còn mồ mả ông bà tôi thì dời về đất nhà của chị tôi ở xã Đồng Ky.

HT:

Còn con sông Bắc Nam thi sao anh Hai ? Cá tôm nhiều lắm hông? Rồi có khi nào anh mê bắt cá tôm vùng nước ngọt sông sâu ấy rồi bỏ học không? Còn cá trên đồng vùng Bình Di, Bắc Nam nữa. Anh Hai rảnh rỗi kể cho em út nghe chơi anh Hai.

HAP:

Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Nghe Anh Hai hỏi đến con sông Bắc Nam, bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu ở nơi chôn nhau cắt rún hiện về trong đầu tôi. Trong Nội Ngoại Đều Thương tôi nói dòng sông đó là dòng sông kỷ niệm, nay có thể đặt cho nó thêm cái tên là dòng sông tiền hay dòng sông vàng bạc, vì nó là mạch sống của cư dân với quá nhiều cá tôm từ Biển Hồ đổ xuống.

Làng Bắc Nam phía trước là sông, sau hè là rừng tre, không có đất để làm nhiều rẫy ruộng như ở Vĩnh Lộc, Vĩnh Trường, Phước Hưng, Đồng Ky…v.v., cư dân Bắc Nam sống bằng nghề cá mắm. Tôm càng xanh bò chầm chậm trên lớp rong dưới nước trong, cá trê, cá lóc, cá leo… lảng vảng ở mé nước ven sông, con nít như tôi cũng mê lắm, anh Hai à, chỉ cần lấy mũi chỉa ba phụp một cái là dính liền. Tôi cũng bắt cá bằng những cách nhẹ nhàng như giăng câu, đặt lờ… Vùng Bình Di cũng như Bắc Nam, đất thấp, mỗi năm có mùa nước ngập, khoảng tháng Bảy ta, nước từ từ dâng lên, ngập cao hơn mặt đất một hai mét, tới tháng Chín ta nước mới rút xuống, nước ngập mang theo phù sa và cá tôm vào đất liền, do đó mà đồng vùng Bình Di, Bắc Nam cũng có nhiều tôm, cá, ốc…v.v. ở các ao đìa.

Ở xứ cá có rất nhiều chim cò, chúng nó bu lại để ăn cá. Hồi còn nhỏ tôi cũng mê bẫy chim cò lắm đó anh Hai. Tôi học cách của người lớn làm bẫy đạp đặt trên cạn, dụ cho con cò bước cẳng lên cái bẫy, cái vòng dây buộc xiết cái cẳng nó, còn bẫy mổ thì đặt trên đất có nước ngập lắp xắp, phía dưới cái dây thòng lọng có móc con cá linh sống đang lội, con cò muốn ăn con cá phải chõ mỏ qua cái thòng lọng, cái bẫy giựt, dây thòng lọng treo cổ con cò. Tôi muốn kể anh nghe cái trò tiêu khiển quái ác nầy để tôi sám hối đó anh Hai.

HT:

Anh Hai An Phú,

Nghe anh kể cá tôm trên sông Bắc Nam thấy mà mê. Anh Hai rành ba cái vụ gài bẫy bắt cò nữa. Thiệt là tài dách. Tôi dưới này muốn bắt cò, cứ chiều chiều là đi cặp theo mấy vườn tre lúc cò dìa vườn tre để ngủ. Tôi khoái bắn nạng giàn thun. Mình đứng rình chờ cho con cò vừa đáp xuống hai chưn đang tìm nhánh tre để đứng; lúc đó nếu mình giương nạng giàn thun bắn một cái rẹt ngay cần cổ hoặc cái đầu, tệ lắm mới nhắm bắn cái mình nó vì bắn cái mình cò ít khi nào té liền mà nó còn gượng giương cánh bay tiếp, khi bị bắn bất ngờ con cò trúng đạn đất sét chới với rớt xuống đất liền.

Nói thì nghe coi bộ dễ ăn vậy, nhưng khó bắn trúng cò lắm nhe anh Hai. Ở Mặc Cần Dưng mấy năm 1949, 1950, làng tôi có thằng cháu trong xóm tên là Bảo, kêu tôi bằng cậu dù nó lớn hơn tôi năm mười tuổi, nó bắn cò bằng nạng giàn thun theo cách tôi vừa kể thiệt là tài dách. Mười viên đạn đất sét lúc nào nó cũng được mười con là thường. Thịt cò mà xào mướp hương ăn ngọt lắm nhe anh Hai.

Ngoài ra, nếu có gài bẫy, tôi chỉ biết loại bẫy cò ke thôi anh Hai, mấy loại bẫy anh kể, tôi có biết chút chút nhưng hổng rành cho lắm.

HAP:

Anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Tôi bắn nạng giàn thun dở lắm, ít khi trúng mục tiêu. Nghe anh nói cò xào mướp hương phát thèm, nhưng bây giờ mướp hương thì dễ kiếm chớ cò thì làm sao tìm ra, anh Hai. Tôi có nghe nhưng chưa hề thấy cái bẫy cò ke, anh Hai tả sơ cho anh em biết cái bẫy nầy ra sao đi anh Hai.

HT:

“Bẫy cò ke” thiệt tình cũng thông dụng như bẫy cần, bẫy đạp, bẫy bật anh Hai à. Hình dáng của nó cũng giống như các loại bẫy trên là có một cái cần làm bằng nhánh tre hay nhánh tầm vông tùy theo mình muốn gài bắt loài chim hay loài thu rừng nào mà mình muốn bắt với cái vòng thay vì hình tròn như vành rổ thì người ta làm cái vòng bằng hình tam giác; rồi cũng có cây bật gài với mồi bằng trái cò ke chin, khi chim vào ăn mồi, cây bật liền bật lên đập gãy cổ chim. Ngoài các loại bẫy cần, bẫy đạp, bẫy bật, bẫy cò ke, vùng kinh xáng Bốn Tổng của tôi còn có bẫy lỗ, bẫy cặp(còn gọi bẫy kẹp), bẫy đạp nữa để dùng vào việc gài bắt các loại thú rừng hoặc chim chuột nữa nhe anh Hai. Những loại bẫy này phần lớn là do kinh nghiệm bắt chim cò cùng rắn, chồn, heo rừng, hươu, nai từ lúc mới khai hoang đất lâm làm ruộng mà có và chính nông dân chế biến ra ráo trọi.

Trong cuốn Nội Ngoại Đều Thương, anh Hai có viết truyện ngắn "Thằng Chum Xứ Cá"smile2). Truyện này anh sáng tác trong hoàn cảnh nào thưa anh Hai? Thằng Chum có thiệt ngoài đời không? Nếu có, nó còn ở lại làng Bắc Nam của anh hay dời đi nơi nào? Những năm tháng sau này, có lần nào anh gặp lại Thằng Chum không, anh Hai?

HAP:

Tôi viết truyện “Thằng Chum Xứ Cá” là viết theo lời tâm sự của Thằng Chum. Thằng Chum có thật, hoàn cảnh của nó y hệt như tôi, số phận đẩy đưa thế nào mà nó và tôi cùng đi định cư ở Úc một lượt, bây giờ ngày nào hai đứa cũng gặp nhau.

HT:

Rất vui được biết nhân vật "Thằng Chum" có thật và đang ở gần anh. Mỗi ngày hai anh gặp nhau và uống cà phê nhắc chuyện xưa còn gì vui bằng, phải hông anh Hai?

Trong truyện "Thằng Chum Xứ Cá" anh kể, không gian là làng Bắc Nam, thời gian câu chuyện vào năm1947. Lúc đó thằng Chum mười tuổi. Nó sanh ra trong một gia đình nghèo. Sau phải lưu lạc lên Biển Hồ sống nghề cá mắm. Những năm tháng ấy, anh có kể cảnh má Chum xúc cá bằng cái rổ, miệng có đường kính cả thước tây, gọi là "rổ bộng". Sao người ta kêu là "rổ bộng" anh Hai?

HAP:

Kính anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Tôi cũng không biết tại sao cái rổ lớn như vậy kêu là “rổ bộng,” dầu lớn hay nhỏ, cái rổ nào cũng có cái lòng trống (bộng, không đặc) để đựng đồ. Đặc biệt, bà-con chỉ gọi cái rổ lớn sâu lòng là rổ bộng.

HT:

“Rổ bộng” trên vùng Bắc Nam của anh, dưới miệt kinh xáng Bốn Tổng (Núi Sập), Mặc Cần Dưng (Châu Thành, Long Xuyên), Tân Bình (Lấp Vò), đâu đâu cũng đều gọi là rổ xúc hết anh Hai. Gọi rổ bộng có lẽ do miệng rộng như miệng cái ống bộng chăng?

Trở lại chuyện cha của Chum hay đi nhắp cá lóc hoặc câu rê, giăng câu, đặt lờ, đặt lọp. Anh có giải nghĩa: "Câu rê khác với nhắp cá lóc ở chỗ nhắp thì lưỡi câu móc vào đuôi con cá nhỏ còn sống như cá linh, thả dây nhợ câu xuống nước cho con cá mồi lội, cá lóc đớp cá mồi, mắc lưỡi câu. Còn câu rê dùng mồi giả là một mảnh thiếc nhỏ uốn hơi cong gắn vào sợi nhợ, gần lưỡi câu, thả mảnh thiếc và lưỡi câu xuống nước, di chuyển mảnh thiếc qua lại cho nhanh, cá lóc thấy mảnh thiếc chiếu loang loáng, tưởng cá mồi, phóng lên đớp, mắc câu" (3).

Ở chỗ tôi dưới này, câu nhắp giống với câu nhắp trên Bắc Nam (An Phú), nghĩa là cũng dùng mồi chạy như cá linh, cá rô, cá rằm, móc lưỡi câu đằng đuôi con mồi và bỏ lưỡi câu chìm xuống mặt nước chừng một tấc rồi cầm cần câu nhắp nhắp nơi các gốc gáo, hoặc trong đống chà, nhợ câu ngắn, cần câu vừa tay cầm, không quá ngắn và cũng không phải dài như cần câu rê, câu phượt. Còn câu rê còn gọi câu quăng, cần câu dài, nhợ câu dài, quăng nhợ câu móc mồi ếch con, nhái, cóc thật xa rồi kéo rê từ từ lại, làm cho cá lóc tưởng con mồi đang còn sống nhảy ngang mà táp miếng mồi.

Ngoài ra, ở vùng tôi còn có câu phượt. Cấn câu và mồi câu, nhợ câu cũng giống y như câu rê nhưng khác cách kéo mồi, câu phượt kéo nhanh hơn câu rê. Cả hai loại câu này người ta dùng cọng rau muống gắn thêm vào lưỡi câu từ mũi tới chột lưỡi câu nhằm mục đích làm cho lưỡi câu không bị vướng cỏ khi mình rê hay phượt.

Cũng nhớ anh kể thời kỳ mặc quần áo bằng bao bố tời và nạn rệp rận cắn. “Thằng Chum Xứ Cá" cũng bị nạn rận cắn như vậy. Ngày nay, hai anh có lần nào ngồi nhắc với nhau về những ngày cơ hàn với nạn mặc bố tời và rận cắn này hông anh Hai?

HAP:
Hình như cái vui sướng mau qua, còn cái khổ cực thì khó mà quên được, anh Hai à! Thằng Chum cũng như tôi, thường nhắc lại cảnh nhà nghèo phải mặc bao bố, vải ta, rận cắn nổi mẩn đỏ một vòng lưng quần, cắn răng chịu ngứa.

HT:

Rồi còn ngủ nóp nữa. Anh có kỷ niệm gì về những lần ngủ nóp này, thưa anh Hai?

HAP:

Thưa anh Hai,

Như tôi đã tả chi tiết trong Nội Ngoại Đều Thương thế nào là cái nóp đệm. Thằng Chum thường nhắc chuyện ngày xưa nó ngủ nóp trên khoang ghe, rồi lăn trở sao đó mà cả người lẫn nóp lọt tuốt xuống sông, nó may mắn mở miệng nóp ra được, lội vào bờ, xém chút nữa thì gia đình nó cúng cơm cho nó rồi!

Vùng Bắc Nam có nhiều muỗi mòng, chiếc nóp làm bằng đệm lá bàng rất dầy, muỗi không chích thủng, người nằm ngủ bên trong không bị muỗi chích như ngủ mùng nằm sát vách mùng. Trước khi vào nóp, phải giở miệng nóp ra, đậy miệng nóp lại nhiều lần để quạt cho muỗi bay đi nơi khác rồi lẹ lẹ chui vào nóp, đóng nóp lại; có con muỗi nào còn sót lại trong nóp, nó cứ đờn ò e hoài, không ngủ được, phải ra khỏi nóp để quạt trở lại.

Cái nóp có thể xếp gọn lại như cái túi ngủ ở các nước phương Tây, mang theo người để khi cần mở ra ngủ, [mà] cái nóp lại rộng rãi hơn cái túi ngủ nhiều. Có điều bất tiện là người nằm trong nóp không thấy được bên ngoài, cho nên hồi phong trào đạo đâm đạo lụi, tôi cũng như Thằng Chum, sợ bị đâm, đem nóp vào ngủ trong mui ghe, vừa ngủ vừa lo, thấy toàn ác mộng.

HT:

Vừa rồi anh Hai có nhắc về việc ngủ nóp “Có điều bất tiện là người nằm trong nóp không thấy được bên ngoài, cho nên hồi phong trào đạo đâm đạo lụi, tôi cũng như Thằng Chum, sợ bị đâm, đem nóp vào ngủ trong mui ghe, vừa ngủ vừa lo, thấy toàn ác mộng.” Hồi mấy năm còn nhỏ tôi thường hay theo mấy ông anh ngủ giữ bò trên Mặc Cần Dưng, tôi cũng ưa ngủ nóp. Ngủ nóp có cái vui là lúc mình mới chun vô nóp nó hơi ngộp thở một chút, nhưng sau đó một đỗi thì từ từ quen hơi và bớt ngộp. Vậy mà ngủ nóp ở trên đồng riết rồi quen, ngủ mùng vải giăng giữa đồng hổng bằng; vì ngủ mùng ngoài trời, lúc nửa đêm sương xuống ướt mùng lạnh lắm, chịu hổng nổi nhe anh Hai; do vậy ngủ nóp coi chừng bò, coi chừng lúa hoặc ngủ giữ đìa, canh cá nhảy hầm là hết sẩy.

Trong phần vừa trích, anh hai có nhắc anh với “Thằng Chum” ngủ nóp sợ bị “đạo đâm đạo lụi” đâm, làm tôi nhớ hồi những năm thập niên 1950 vùng quê ngoại của tôi ở Mặc Cần Dưng, rồi Ba Bần, Kinh Xáng Bốn Tổng, Chắc Cà Đao, Hòa Bình, Bình Mỹ, Bình Thuỷ, Phú Hòa, Định Mỹ, Vàm Cống, Lấp Vò, Tân Bình, Hội An Đông, Mỹ Luông, Chưn Đùn, Cái Hố, Nhơn Mỹ, Mỹ Hòa Hưng; rồi Long Châu, Long Hưng, Long Sơn, Long Phú, Vĩnh Xương, Vịnh Đồn, Tân An thuộc vùng Tân Châu … đâu đâu cũng đồn có “đạo đâm đạo lụi” đêm đêm đi tìm đâm nhiều người như câu chuyện anh kể trong Nội Ngoại Đều Thương: “Ở miền Tây, cụ thể là ở Châu Đốc, Long Xuyên vào cuối thập niên năm mươi, tin đồn có phong trào đạo đâm, đạo lụi. Nghe nói, cũng giống như những kẻ ôm bom tự sát, người theo đạo nầy nếu đâm chết mười người thì biết bay. Tin dữ lan cả vùng, nơi nầy có người bị đâm, nơi kia có người bị lụi, với nhiều tình tiết giựt gân kinh khủng. Chỉ nghe đồn, chưa ai thấy tận mắt bị đâm, nhưng ai cũng nơm nớp lo sợ bị mất mạng vì bọn tà đạo nầy.”(4)

Hồi đó, tôi còn rất nhỏ nhưng tôi nhớ ở nhà quê nhà nào cũng làm một cái mõ tre treo sẵn nơi vách nhà, có nhà còn làm tù và bằng sừng trâu để phòng khi có ai trong xóm tri hô có “đạo đâm đạo lụi” là cả xóm cả làng cùng hè nhau đánh mõ, thổi tù và báo động khắp làng xóm. Nhớ có lần người ta còn đồn có một tên đạo đâm ngoài ấp Bình Phú, thuộc xã Bình Hòa, gần mé sông Cái dưới vàm rạch Mặc Cần Dưng, khi bị dân chúng phát giác và đánh mõ rượt chạy có cờ; dồn về phía có cái hầm nuôi cá, bị rượt nột quá, hắn bèn nhảy xuống hầm cá này và dân chúng bao vây kêu hắn lội lên nhưng hổng thấy tăm hơi đâu hết. Sau người ta mới hè nhau tát cạn hầm cá này, nhưng chẳng thấy tên đạo đâm này. Vậy mà rồi, như anh nói, người nầy đồn, người kia đồn rồi lan truyền khắp nơi làm sắp nhỏ như tụi tôi tối nào cũng hổng dám ngủ gần vách nhà dừng bằng lá dừa nước, mà trải chiếu giăng mùng ngủ giữa nhà đó anh Hai.

Nói gì tối tối không dám ngủ gần vách nhà, mà chiều chiều hơi xế bóng một chút là bà con lo cụ bị thắp nhang cúng kiến bàn ông Thiên thiệt sớm để chuẩn bị vô nhà đóng cửa vì sợ đạo đâm đạo lụi xuất hiện tìm đâm mình nhe anh Hai. Giờ nhắc lại với anh chuyện cách nay sáu bảy chục năm mà còn ớn thần hồn.

Vậy, thưa anh Hai, hồi đó do đâu mà có “đạo đâm đạo lụi” này? Do ai truyền bá và họ làm vậy là nhằm mục đích gì vậy anh Hai?

HAP:

Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Vụ “Đạo đâm đạo lụi”, anh em mình chỉ nghe tin đồn thôi, nhưng phong trào đó quá sôi động, ai cũng kinh hoàng. Không rõ ai gây ra phong trào, nhưng chắc chắn không phải do một cá nhân mà có cả một tổ chức mới làm nổi việc đó; nhưng tôi nghĩ có lẽ người ta muốn đánh lạc hướng dân chúng miền Tây, muốn mọi người suốt ngày chỉ chú tâm đến vụ đạo đâm đạo lụi, không bàn tán việc gì khác. Tôi không nhớ rõ phong trào đạo đâm đạo lụi xảy ra năm nào ở thập niên 50 (nếu anh Hai nhớ, xin nói cho biết).

HT:

Thưa anh Hai An Phú,

Về các ông “Đạo” nơi các làng quê miền Tây Nam phần của mình, hồi nhỏ tôi nghe kể nhiều lắm. Theo cuốn Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm (5) có kể ông Đạo Tưởng, ông Đạo Gò Mối; riêng ông Đạo Tưởng ở Tân Châu năm 1939 dấy loạn; rồi trong cuốn Nửa Tháng Trong Miền Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu cũng có nhắc ông Đạo Tưởng này, sách viết: “Tên phù thủy ấy là “đứa ở” của nhà văn Nguyễn Chánh Sắt, tên là Ba Quốc, bỏ việc của chủ ngang xương để đi “làm trời.”Mới đầu cất am ngồi mơ tưởng đâu đâu, nên có tên là Đạo Tưởng. Y tuyên bố rằng có đạo thuật làm sứng câm họng và chính y sau nầy sẽ là Minh Hoàng. Vậy mà cũng có người tin được. Họ góp tiền dựng chùa, cung phụng y phục y như ông vua thật. Em của ông được tôn xưng là ngự đệ, những người thân tín của y thì được đặt chức nguơn soái, tiên phuông… như một triều đình thật.”(6)

Ngoài ra, trong cuốn “Dạo chơi tuổi già”, nhà văn Sơn Nam, có kể: “Nhớ hồi còn bé, khoảng năm 1934 về sau, phía Bảy Núi vá các hải đảo thỉnh thoảng lại xuất hiện vài “ông đạo” mà sau nầy người đời còn nhớ, thí dụ như Đạo Nổi, Đạo Đất, Đạo Lửa… những kiểu tu hành cá thể, mỗi người một giáo lý với nghi thức hành hạ thân xác riêng…. Những đạo sĩ quái dị ấy lần hồi mất uy tín, chẳng còn ai ái mộ, trong số đồng bào nơi xa xôi, kém giao lưu, thiếu sách báo, phương tiện truyền thông vẫn là “tin đồn.”(7)

Thưa anh Hai, sách vở thì vậy, nhưng hồi nhỏ lúc tôi còn ở trên Măc Cần Dưng, làng Bình Hòa cũng có nhiều ông đạo như ông Đạo Rỡ là con của cậu Mười Chót, bà con bên ngoại tôi. Từ hồi nhỏ tới lớn ông Đạo Rỡ này chuyên làm ruộng nhưng bỗng một hôm ma nhập ông lên bà xuống và rồi ông tướng ứng xưng là Đạo Rỡ, trị bá bịnh. Thường ông hay bận bộ áo quần bà ba trắng, trông rất thư sinh bạch diện, ốm cao lêu nghêu. Bà con xóm nhà Lầu, cạnh bên nhà cậu Mười Chót hổng ai tin tài trị bịnh xưng Ông Đạo của ông nhưng khách thập phương tin nườm nượp, họ chèo ghe bơi xuồng tới đậu đặc bến nhà cậu Mười chờ ông đạo chữa bịnh. Người ta mang lại gà vịt, nhang đèn cúng vái rợp trời có tới hằng trăm người mỗi ngày. Sau nầy tôi hổng nhớ ông Đạo Rỡ nầy giải nghệ lúc nào nhưng chắc chắn một điều là dân quê khắp nơi các làng quê tin tưởng ông đạo nầy là do mê tín dị đoan thôi anh Hai.

Lúc bấy giờ khắp nơi, nhứt là bên miệt Vàm Nao, Nàng Mau, Cái Xoài, Long Kiến về phía Cù Lao Ông Chưởng dân chúng đồn nhiều ông đạo linh ứng như ông Đạo Nằm, ông Đạo Tiêm, ông Đạo Nước Lạnh chuyên trị bá bịnh. Còn thầy pháp trị ma cũng nhiều vô số kể. Dường như làng nào cũng có thầy pháp dùng bùa trị ma. Chẳng hạn khúc trên mương ông Nhà Lầu một đỗi, gấn chùa Tây An của ông Đạo Cậy, có thầy Tám Sửu trị ma bằng cách bắt ma bỏ vô hũ; xéo xéo bên sông rạch mặc Cần Dưng, gần nhà cậu Ba Huề, cũng có thầy pháp trị bịnh ma mà tôi quên tên rồi. Miệt Tân Bình (Lấp Vò) có nhiều thầy pháp trị ma giống trên làng Bình Hòa (Mặc Cần Dưng), như thầy Bảy Huê. Chiều nào, cứ gần chạng vạng là nghe trống thầy pháp đánh nghe lung tung, lung tung là sắp nhỏ tụi tôi hổng dám ra sau vườn đi tiểu vì sợ ma. Hổng biết sao thời ấy ma quỷ lộng hành quá mạng vậy và có thiệt là có ma quỷ hông anh Hai?

Còn “đạo đâm đạo lụi,” thiệt tình là tôi hổng biết ai bày ra như vậy và bày ra lúc nào; nhưng phải công nhận những năm 1954-1956 là thời kỳ đạo này nổi lên rầm rộ hết biết nhe anh Hai.

HAP:

Kính anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Nhân khi bàn về đạo đâm đạo lụi, anh Hai kể quá nhiều thứ đạo, nghe đã luôn đó anh Hai. Anh Hai nói 1954-1956 phong trào đạo đâm đạo lụi nổi lên rần rộ, như vậy phong trào nầy đã lan ra khắp nơi miền Tây vào dạo ấy rồi. Tôi đi Sài Gòn học từ năm 1955, bãi trường về Châu Đốc thăm nhà, thường đi xe chiều, khuya mới về đến Châu Đốc, kêu người chị bà con bạn dì mở cửa, chị vừa mở cửa vừa giơ cao cây gài cửa lên thủ, còn tôi cũng đưa cái cặp học trò lên chuẩn bị đỡ nếu bà chị sợ quá rồi đập ẩu …. Như vậy sau 1955 phong trào nầy vẫn còn sôi động ở Châu Đốc.

Nói vể Ông Đạo Nổi, hồi nhỏ tôi có gặp ông ấy đi ngang nhà tôi ở Bắc Nam nhiều lần, người mập mạp, vui tánh, nhưng nói chuyện “lừng khừng,” luôn dẫn theo một nữ “thị giả” cũng có vẻ “lừng khừng,” nhưng không bao giờ nói chuyện. Ông già tôi cắc cớ lắm, lúc ông đạo đang ngồi nổi trên dòng sông Bắc Nam, hai tay vỗ nước kêu bùm bum, ông già lặn dưới nước, quờ quạng coi ông đạo có độn cái gì phía dưới hay không mà ngồi vững như vậy. Ông già tôi xác nhận là không thấy có độn. Có thể ông đạo nổi có luyện khí công.

HT:

Thưa anh Hai An Phú,

Nhắc các ông Đạo thì vùng mình hồi thời anh và tôi, ôi thôi nhiều ông Đạo nổi lên như vậy, theo tôi là do dân quê mình dễ tin người, dễ sùng bái, dễ mê tín nên cứ nghe có ai xưng mình là ông Đạo thì hổng cần biết thiệt giả gì, rồi cứ rủ nhau đến chiêm bái và nhờ vậy mà có một thời nhiều ông đạo nổi tiếng như cồn.

Còn đời xưa, thời Phật Thầy Tây An, theo sách vở và nghe ông bà xưa kể lại thì cũng có những người tài theo Phật Thầy cứu người, cứu đời, như các vị giáo chủ hoằng pháp như ông Đạo Đèn, quê ở sốc Lương Phi, núi Tà Lơn, Tịnh Biên, Châu Đốc; Đức Bổn Sư, ngài chính danh là Ngô Lợi, quê quán Dội, gần Mộc Bài, thuộc vùng giáp giới Miên-Việt, tỉnh Châu Đốc; ông Sư Vãi Bán Khoai không rõ quê quán nhưng thường đến xã Vĩnh Gia thuộc kinh Vĩnh Tế (Châu Đốc) trị bịnh cứu nhơn độ thế; ông Cử Đa, quê ngoài Phù Cát (Qui Nhơn), lúc mới tới vùng Bảy Núi, nhiều người nghe tiếng nói của ông phát ra có giọng miền Trung, nên dân địa phương cũng gọi ông là Ông Thầy Huế .…(8)

Trở lại tác phẩm Nội Ngoại Đều Thương, anh Hai có nhắc chuyện má anh thích hàng vải cẩm tự may cái quần để mặc đi đám tiệc nhưng vì nhà nghèo nên bác không mua nổi cái quần loại vải nầy, câu kết anh viết rất cảm động : “Quần mẹ rách vá nhiều chỗ. Gặp người bán hàng vải dạo, mẹ ngắm tới ngắm lui hàng cẩm tự, mẹ thích lắm. Nhưng rồi nhìn lại đám con nheo nhóc, mẹ không lựa mua cẩm tự nữa. Mẹ tiếp tục mặc cái quần cũ. Bây giờ rất nhiều hàng vải đẹp, phẩm chất không thua hàng cẩm tự, các con có tiền để mua sắm cho mẹ. Nhưng mẹ không còn. Nhớ thương mẹ quá, mẹ ơi!” (9)

Đọc mấy dòng kết của anh làm tôi cũng nhớ má tôi nghèo như vậy, muốn khóc. Thưa anh Hai, sao ngày xưa người ta gọi các loại hàng lãnh Tân Châu là Cẩm Tự vậy anh Hai? Xin anh cắt nghĩa giùm cho em út hiểu thêm nhe anh Hai.

HAP:

Về tên hàng vải “cẩm tự,” tôi nhớ trên mặt hàng có dệt những chữ vuông cạnh, rõ nét. Theo Từ điển Hán Việt, “cẩm” là gấm vóc, “tự” là chữ, tôi nghĩ “hàng cẩm tự” là một loại gấm vóc có dệt chữ lên trên mặt. Anh Hai là nhà thâm nho, nếu thấy tôi giải thích không đúng, xin anh chỉnh giùm.

HT:

Thưa anh Hai An Phú,

Anh cắt nghĩa “cẩm tự” vậy là quá rõ rồi. Chữ dệt trên gấm. Theo Nguyễn Văn Kiềm hàng cẩm tự có nhiều loại như hàng lụa dệt ra loại trơn gọi là cẩm tự trơn, loại có bông thì gồm cẩm tự bông cúc, cẩm tự mặt võng, cẩm tự mặt đệm lớn, cẩm tự mặt đệm nhỏ v.v…(10) Nhà bà ngoại sắp nhỏ con tôi ở ngay xã Tân An (Tân Châu) xứ của những hãng dệt hàng lãnh cẩm tự, sau vườn có trồng nhiều cây mặc nưa hằng năm bán cho các lò nhuộm lãnh. Loại trái này nhuộm lãnh cẩm tự không bay màu nhe anh Hai, càng mặc cũ hàng càng bóng, vải mịn và mềm mại lắm.

HAP:

Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,

Anh Hai nhắc tôi mới nhớ đặc điểm của hàng cẩm tự là mặc càng cũ càng bóng, mịn và mềm. Nguồn tài liệu tham khảo của anh Hai quả thật dồi dào và vô giá, chắc anh đã khổ công góp nhặt và lưu giữ rất nhiều năm mới có được như vậy.

HT:

Anh Hai An Phú,

Giờ xin trở lại cuốn Nội Ngoại Đều Thương của anh Hai, ở lời mở đầu anh Hai có viết: “Tôi không phải là nhà văn. Từ nhỏ đã thích đọc văn của người khác viết, nhưng bản thân mình chưa viết được một bài văn nào. Về già rảnh rỗi viết để giải khuây, nhớ gì viết nấy. Bè bạn có dịp đọc được, khuyến khích viết thêm, nên tiếp tục viết rồi in thành quyển sách nhỏ này để làm kỷ niệm.”

Và rồi tôi đọc lời nhận xét của nhà văn Vũ Thất qua bài “Đọc Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung” trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, tác giả viết:

Bằng vào lời phi lộ ‘Về già rảnh rỗi viết để giải khuây, nhớ gì viết nấy,’ thì hẳn ông bắt đầu viết vào lứa tuổi …tri thiên mệnh. Thế nhưng những gì ông nhớ và viết ra thì thật đáng kinh ngạc so với số tuổi của ông.

Tiếp theo, tác giả Vũ Thất nhận định về cách viết của Khiêm Cung:

Lối kể chuyện của ông là lối kể chuyện trinh thám, khiến tôi gần đứng tim và luôn mong mỏi cả gia đình ông được thoát đi suông sẻ .… Nhưng hãy nghe ông tỏ lời kết thúc chuyến vượt biên: ‘Trái đất tròn, nước Việt Nam mình cũng tròn, gia đình tôi đi vòng vòng rồi trở về chỗ cũ.’ Ông thất bại chua cay, mất bao nhiêu tiền của mà vẫn giữ nụ cười hóm hỉnh…

Để rồi từ đó, nhà văn Vũ Thất đưa ra nhận xét về cách chọn lọc, sắp xếp các truyện trong Nội Ngoại Đều Thương như sau:

Có lẽ chính nhờ tinh thần hài hước đó mà Khiêm Cung đã tuyển chọn bài và cố tình sắp xếp theo thứ tự thời gian đột biến: từ một quá khứ ấu thơ rồi bất ngờ kể chuyện tuổi già, từ tuổi già bỗng quay lại thuở học trò, từ thuở học trò chợt nhảy sang thời… mất nước. Thời gian đột biến kéo theo không gian đột biến. Từ quê nội sang quê ngoại. Từ quê nhà chuyển sang quê người. Đề tài cũng biến đổi liên tục. Từ gia đình đến hàng xóm. Từ thầy cô đến bạn bè. Từ tập tục lễ nghĩa đến chuyện cũ tích xưa. Từ ngôn ngữ bất đồng đến con người bất bình đẳng… Hiện tại-quá khứ xem ra không dính gì nhau mà lại đan nhau một cách một cách khéo léo, tự nhiên và lôi cuốn.

Sau cùng, anh Vũ Thất kết luận:

Với một trí nhớ lạ thường, một tri thức quảng bác, với lời văn bình dị sáng sủa đôi khi điểm chút khôi hài ý nhị, tôi không tin tập truyện Nội Ngoại Đều Thương được hình thành như ông bày tỏ: “Về già rảnh rỗi viết để giải khuây”. Ông nói gì thì nói, tự tập truyện của ông đã hàm chứa đầy đủ các lời nhắn nhủ về đạo làm người Việt Nam, rất cần cho con cháu ông, cho con cháu tôi và cho tuổi trẻ hải ngoại.(11)

Là tác giả của tập truyện Nội Ngoại Đều Thương ấy, anh có cảm tưởng ra sao qua những lời nhận định vừa rồi của nhà văn Vũ Thất, anh Hai?

HAP:

Sau khi Cuốn truyện Nội Ngoại Đều Thương ra mắt, có nhiều độc giả thương mến coi tôi như là một nhà văn, tôi trân trọng cảm ơn chân tình đó. Nhưng bản thân tôi cho tới ngày hôm nay vẫn nhận thấy rằng mình chưa phải là một nhà văn. Tôi nhớ quê nội, làng Bắc Nam, ngay từ lúc tôi ra tỉnh lỵ Châu Đốc học, vì bận lo học hành, không thường xuyên về thăm nhà, thăm quê. Sau đó, gia đình rời Bắc Nam đi tản cư về quê ngoại ở An Phú-Châu Đốc, biết chắc là không bao giờ có dịp trở về làng cũ nữa, tôi càng nhớ Bắc Nam nhiều hơn.

Còn đối với làng Vĩnh Lộc và cả khu vực quận An Phú còn phảng phất nụ cười, tiếng nói và cử chỉ trìu mến của Bà Ngoại, của cậu mợ, các anh chị cô cậu của tôi và bà con, láng giềng của Bà Ngoại tôi tạo thành những kỷ niệm đẹp mà tôi không bao giờ quên được. Sống ly hương, chung quanh mình hầu hết là những người khác chủng tộc, màu da, những kỷ niệm êm đềm, đẹp đẽ nơi quê nội, quê ngoại hiện về, tôi vội ghi ra những kỷ niệm đó thành cuốn truyện ngắn, Nội Ngoại Đều Thương là một lối thoát cho những tình cảm sâu đậm, những luyến nhớ không nguôi còn ẩn ức trong lòng. Những tình cảm, những luyến nhớ đó có thể trở thành hương vị của món ăn tinh thần, Món ăn có ngon là nhờ hương vị ngon chớ không phải là do đầu bếp giỏi. Nội Ngoại Đều Thương là truyện kể, còn rất nhiều khuyết điểm, tôi tự thấy chưa phải là một nhà văn. Dầu sao, độc giả không quá hững hờ với cuốn truyện là một khích lệ lớn lao đối với người viết.

Tôi đã ứa nước mắt vì cảm động khi đọc hai bài nhận xét về cuốn truyện Nội Ngoại Đều Thương, một bài của nhà văn Lương Thư Trung (mà cũng là Anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng) đăng nơi phần sau cuốn truyện và trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, đã soi thấu tâm can của tác giả; một bài khác của nhà văn Vũ Thất viết sau khi cuốn truyện phát hành, cũng đã đăng trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, Người Việt Boston, Saigon Echo và nhiều tờ báo đìện tử ở Hoa Kỳ, cùng những tờ như tờ Văn Nghệ Tuần Báo, Bán Tuần Báo Việt Luận ở Úc châu …. Cả hai bài viết rất vắn gọn, nhưng rất đầy đủ ý nghĩa, giới thiệu những điểm nổi bật của cuốn truyện, nhờ vậy mà có thêm nhiều độc giả tìm đọc Nội Ngoại Đều Thương. Tôi xin chân thành cảm ơn hai tác giả đã nhiệt tình giới thiệu cuốn truyện với đồng hương khắp nơi.

Nhân tiện, tôi xin báo một tin vui nho nhỏ: Cuốn truyện ngắn Nội Ngoại Đều Thương được Austlit ghi nhận vào thư mục của tổ chức. Austlit là một hệ thống thư viện do 12 trường đại học tại Úc và Thư Viện Quốc gia Canberra phối hợp thành lập. Austlit có chuyên viên từng sắc tộc phụ trách đọc và tuyển chọn để ghi nhận vào thư mục những tác phẩm của người Úc (bất kỳ nguồn gốc nào), sáng tác và phát hành tại Úc. Đọc Nội Ngoại Đều Thương, Austlit thấy có những bài dính dáng đến Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, họ hỏi thăm tôi về anh Nghĩa, tôi đã gởi cho tổ chức đó mượn cuốn Con Đường Cũ và sẽ gởi cho họ tiểu sử của anh Nghĩa. Hy vọng sách của anh Nghĩa cũng sẽ được ghi nhận vào thư mục Austlit.

HT:

Thưa anh Hai An Phú,

Nhơn anh có nhắc nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, cũng như trong lời giới thiệu khi vào cuộc trò chuyện này tôi có nhắc tác giả Con Đường Cũ: “Viết về vùng Xà Tón (Tri Tôn) chắc chắn không ai qua nổi nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa.”

Mới đây tôi có đọc được “Những bức thư đầm ấm”(12), là những lá thư thăm hỏi và trao đổi giữa nhà văn Nguyễn Hiến Lê và thi sĩ Quách Tấn (từ 1966 đến 1984). Nhơn bàn về viết địa phương chí, lá thư ghi Nha Trang ngày 27-4-1980, Quách Tấn viết: “Viết địa phương chí cũng như viết truyện ký, phải viết bằng “cây bút trí” chấm vào “bình mực lòng” thì mới làm cho cảnh sống người sống. [Cho dù] viết bằng cây bút của người vẽ địa đồ, của người chép lý lịch, dù đúng từng ly từng tí, cũng không phải là một mỹ nghệ phẩm. Phải chăng anh? Theo tôi, phải yêu người yêu cảnh, viết mới hay nổi. Dường như anh đã đồng ý rồi.” (13) Trong lá thư hồi âm ghi Sài Gòn ngày 10-6-80, Nguyễn Hiến Lê viết: “Viết địa phương chí, đúng như anh nói, phải có lòng (tôi bảo là có tâm hồn) lại phải có cặp mắt nữa. Phạm Trung Việt thiếu cả hai cái đó. Hai tập Nươc Non Bình Định và Xứ Trầm Hương của anh, theo tôi, khó có ai viết hơn.”(14)

Từ đó, tôi mới nghiệm ra Khiêm Cung Dương Văn Chung và Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa là những tác giả đã có đủ hai yếu tố ấy qua những trang sách viết về bức tranh quê làng Bắc Nam (An Phú) cũng như Xà Tón (Tri Tôn) thuộc địa giới tỉnh Châu Đốc vậy.

Xin chân thành cảm ơn anh Hai đã bỏ thì giờ chia sẻ nhiều chi tiết về một khoảng thời gian dài sáu bảy chục năm với những mùa cá tôm đầy trong sông nước vùng Bắc Nam (An Phú). Đồng thời qua cuộc trò chuyện này, anh cũng phác họa lại những nét chính về các sinh hoạt xã hội thời tao loạn lúc bấy giờ để giúp cho tôi và các bạn trẻ có dịp hiểu thêm về một vùng đất xa xôi mãi tận miền biên giới Việt-Miên, qua các mùa màng cùng những lễ tục. Đây thật là một cuộc trò chuyện thú vị và bổ ích.

Kính chúc anh Hai luôn luôn dồi dào sức khỏe và hy vọng anh sẽ tiếp tục chia sẻ cùng bạn đọc nhiều mẩu chuyện lý thú nơi làng quê của anh ngày xưa trong các bài viết mới sau này. Kính xin anh chuyển lời thăm chị Hai và kính chúc chị Hai cùng các cháu mạnh khoẻ.

Trân trọng kính chào anh Hai.

HAP:
Cám ơn anh Hai Trầu. Khi nào anh chị Hai rảnh, kính mời anh chị ghé An Phú chơi để anh em mình có dịp tiếp tục hàn huyên.
Kính chúc anh chị Hai và các cháu vui khỏe.

https://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/bm%2022-6-22_files/image018.jpg

Nhà văn Khiêm Cung Dương văn Chung và phu nhân Nguyễn Ngọc Phấn

Cước chú:

1/ Tập truyện Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung Dương Văn Chung, nhà xuất bản Quán Âm Sơn, Tân Tây Lan, năm 2008, trang 1.

2/ Thằng Chum Xứ Cá, trong NNĐT sđd, gồm bốn phần: Nhà nghèo, Biển Hồ, Ngủ nóp, Rắn mắt, từ trang 74 đếm trang 86

3/ Đạo đâm đạo lụi, NNĐT sđd, trang 196

4/Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm & Huỳnh Minh (31-12-1964), nhà xuất bản Thanh Niên tái bản, năm 2003.

5/ Nửa Tháng Trong Miền Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu,1970, Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản (không ghi năm), trang 66.

6/ Thất Sơn Mầu Nhiệm của Nguyễn Văn Hầu, do Từ Tâm xuất bản năm 1955; Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản (không ghi năm), trang 67.

7/ Dạo Chơi Tuổi Già của Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ, năm 2002, trang 166.

8/ Thất Sơn Mầu Nhiệm, sđd, trang 113. Quyển Tìm hiểu An Giang Xưa của Võ Thành Phương (nxb Văn Nghệ An Giang, 2004) có liệt kê những người tài theo Phật Thầy cứu người, cứu đời như:

a/ Đức Cố Quản Trần Văn Thành quê ở Cồn Nhỏ, làng bình Thạnh Đông, tổng An Lương, tỉnh Châu Đốc.

b/ Ông Tăng Chủ, họ Bùi nhưng tên thiệt của ông thì hổng ai biết tên gì, trên bia mộ của ông ở Nhà Bàng (Tịnh Biên) chỉ ghi “Tăng Chủ Bùi Thiền Sư” mà thôi.

c/ Ông Đình Tây tên Bùi văn Tây, quê quán ở đâu không rõ, có người nói ông ở Năng Gù, có người nói ông ở Nhơn Hòa, cả hai nơi này đều thuộc tỉnh Châu Đốc.

d/ Ông Đạo Xuyến quê ở Ba Giác (Bến Tre), ông lập chùa Châu Long Thới và khai phá đất Cái Dầu.

e/ Ông Đạo Lập, tên thật Phạm Thái Chung, người làng Đa Phước, Cồn Tiên, thuộc An Phú của anh, ông lập chùa Bồng Lai ở Bài Bài thuộc xã Nhơn Hưng, quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc.

f/ Ông Đạo Ngoạn nguyên danh là Đặng Văn Ngoạn, sanh quán làng Nhị Mỹ, tổng Phong Thạnh, quận Cao Lãnh, trong lòng sông Cần Lố, thuộc rạch Trà Bồng (Đồng tháp Mười).

g/ Ông Đạo Lãnh, còn gọi ông Hai Lãnh, ông còn một tên nữa là Cậu Hai Gò Sặt. Ông tinh thông nho học, võ nghệ cao, có thuật gồng và thông tường các loại bùa thư.

h/ Ông Đạo Sĩ, người làng Trà Kiết (An Giang), từ Mặc Cần Dưng đi vô tới chợ Cần Đăng, đi vô nữa là tới Trà Kiết, ông đến Xẻo Môn thọ phái Bửu Sơn Kỳ Hương, về sau ông lập cốc ở Trà Kiết trị bệnh cho bá tánh.

i/ Ông Đạo Thắng tên thật Nguyễn Văn Thắng, là người gần gũi với Phật Thầy Tây An.

k/ Ông Đạo Chợ, quê ở Chưn Đùn, Cá Hố (gần Vàm Ông Chưởng), ông trị bịnh rất linh nghiệm.

l/ Ông Đạo Đọt giữ việc hương khói nơi trại ruộng Thới Sơn của Phật Thầy, có tài trị hết bịnh nhiều người.

9/ Vải quần cẩm tự, NNĐT sđd, trang 195

10/ Tân Châu Xưa, sđd, trang 61.

11/ “Đọc Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung Dương Văn Chung” của Vũ Thất, đăng trên Thất Sơn Châu Đốc ngày 27-5-2009.

12/ Những Lá Thư Đầm Ấm của Quách Tấn và Nguyễn Hiến Lê, do Quách Giao sưu tầm, nhà xuất bản Tổng hợp tp HCM, năm 2010.

13/ Những Lá Thư Đầm Ấm, sđd, trang275.

14/ Những Lá Thư Đầm Ấm, sđd, trang 283.

https://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/bm%2022-6-22.htm

# Bắc Nam phảng phất nụ cười: trò chuyện cùng anh Hai An Phú Lương Thư Trung https://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/bm%2022-6-22_files/image002.jpg Bìa tuyển tập truyện ngắn Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung Dương Văn Chung (nxb Quán Âm Sơn: Tân Tây Lan, 2009) Lời giới thiệu của Hai Trầu: Anh Hai An Phú tên thật là Dương Văn Chung, bút hiệu Khiêm Cung, tuổi Ất Hợi, sanh quán tại làng Bắc Nam, quận An Phú, tỉnh Châu Đốc, hiện định cư tại Sydney, Úc Đại Lợi, tác giả tập truyện Nội Ngoại Đều Thương do nhà xuất bản Quán Âm Sơn (Tân Tây Lan) ấn hành năm 2009. Viết về vùng quê Thất Sơn Mầu Nhiệm ngày xưa, không ai qua nổi học giả Nguyễn Văn Hầu; viết về vùng Tân Châu ngày trước, không ai qua nổi bậc tiền bối Nguyễn Văn Kiềm; còn viết về vùng Xà Tón (Tri Tôn) chắc chắn không ai qua nổi nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa; nhưng viết về vùng Bắc Nam, Vĩnh Trường, Đồng Cô Ky, Đồng Đức Thượng với những mùa cá tôm, chim chóc, lúa thóc chín vàng đồng, tôi tin không ai qua nổi nhà văn Khiêm Cung Dương Văn Chung. Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn những mẩu trò chuyện cùng tác giả Nội Ngoại Đều Thương dưới đây, qua những mùa màng vùng sông nước Bắc Nam thuộc quận An Phú, tỉnh Châu Đốc, cách nay có gần bảy tám chục năm xa xưa ấy. Hy vọng chia sẻ cùng các bạn một chút tình quê qua những câu chuyện kể của người già còn nặng lòng với chốn cũ một thời…. Trân trọng Hai Trầu Kinh xáng Bốn Tổng ngày 06-06-2011 Hai Trầu (HT): Kính thăm anh Hai An Phú, Được biết anh Hai có kể chuyện trong cuốn sách Nội Ngoại Đều Thương, anh ký tên Khiêm Cung. Xin anh Hai hôm nào rảnh anh kể chút xíu về bút hiệu Khiêm Cùng này nghe chơi anh Hai. Hai An Phú (HAP): Kính Anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng, Khi tôi gởi truyện ngắn đầu tiên “Một chuyến vượt biên” để xin đăng trên Văn Nghệ Tuần Báo phát hành tại Sydney, tôi lấy bút hiệu là Vi Trần, vì tôi khiêm nhường ví phận mình bé bỏng, không đáng quan tâm, như một hột bụi ở thế gian. Nhà văn Hồ Ông, Chủ bút Văn Nghệ Tuần báo, trước khi đăng, có nhắn tin cho tôi nơi Mục Thư Qua Tin Lại rằng từ trước đã có người lấy bút hiệu Vi Trần rồi, tôi nên chọn bút hiệu khác, bằng không thì những đứa con tinh thần do mình mang nặng đẻ đau trở thành con của người khác. Tiếc bút hiệu Vi Trần lắm, nhưng vì sợ mất con, tôi đành chọn một bút hiệu khác, Khiêm Cung. Khiêm Cung vừa là bút hiệu vừa là phương châm tôi áp dụng trong cuộc sống, luôn luôn khiêm tốn và hòa nhã, lễ độ, kính nhường người khác. Cố gắng thực hành theo phương châm, nhưng thật tình mà nói, vì là phàm phu, tạp khí tích lũy từ nhiều đời, lửa sân vẫn chưa tắt hẳn, anh Hai ơi. HT: Rất cảm ơn anh Hai cắt nghĩa rành mạch bút danh Khiêm Cung. Trong Nội Ngoại Đều Thương anh Hai có nhắc lại làng quê của anh qua cái tựa “Làng Tôi” anh viết: Tôi sanh ra tại làng Bắc Nam. Hiện nay mồ mả ông bà tôi vẫn còn tại đó. Làng này thuộc lãnh thổ Miên, còn gọi là làng Đồng Đức Thượng, giáp ranh với làng Đồng Đức Hạ bấy giờ thuộc tỉnh Châu Đốc, Việt Nam. Từ chợ Châu Đốc lên Nam Vang qua ngã Bình Di, đi bằng đường thủy được khoảng mười lăm ki lô mét, bạn sẽ gặp một chỗ đất bồi thành cù lao rất lớn ở giữa sông gọi là Cù lao Ba tại làng Vĩnh Trường, tiếp tục đi khoảng mười lăm ki lô mét nữa lại gặp một cái cồn gọi là Cồn Cát, rồi đến Cồn Bắc Nam. Một con sông nhỏ hiền hòa chảy qua Bắc Nam, trước khi đổ ra sông cái. Cửa sông nhỏ này ngó ra Cồn Bắc Nam. Dân trong làng thường phân biệt làng Bắc Nam thành hai xóm: xóm trong gần nguồn sông, người Miên ở; xóm ngoài là khu vực vàm sông, giáp mối giữa sông nhỏ và sông cái, nơi định cư của người Việt và người Hoa. Lúc bấy giờ Việt-Miên-Lào là ba nước Đông Dương thuộc Pháp. Người Việt và người Miên sống với nhau rất hòa thuận(1). Xin anh vui lòng cho biết thêm chi tiết về bối cảnh lịch sử thời niên thiếu của anh. https://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/bm%2022-6-22_files/image004.jpg Bản đồ Nam Kỳ (Cochinchina) vào năm 1942 (nguồn: Mạnh Hải’s Photostream) HAP: Tôi xin hồi đáp anh Hai Trầu một số chi tiết liên quan đến làng Bắc Nam của tôi: Khoảng cuối thập niên 40, gia đình tôi dọn lên một chiếc ghe, chèo chống đi vô vùng rạch Miên, địa danh là Hà Rùm để làm nghề cá mắm. Ở Hà Rùm được hơn một năm, gia đình tôi quay trở về làng Bắc Nam. Lúc bấy giờ cha tôi còn bới tóc vì ông theo quan niệm xưa, tóc là của cha mẹ sanh ra, để tóc là thờ kính ông bà, cha mẹ. Trên đường từ Hà Rùm về, Ông Nội tôi nhắn rằng Ông cho phép cha tôi hớt tóc ngắn, vì tên cò tây trú đóng ở Vàm Bắc Nam nói ai để tóc là Phật Giáo (Phật Giáo Hòa Hảo). Lúc đó người Pháp bắt đầu lo sợ người Việt Nam nổi loạn, họ sợ Việt Minh, họ sợ Hòa Hảo. Ông Nội cũng cho biết chú Út tôi bị tên cò tây nghi ngờ là Việt Minh nên bắt chú vào đồn đánh đập khảo tra, nhưng sau đó được thả ra, còn nhà của cha tôi bỏ trống, cò tây sợ là nơi trú ẩn của Việt Minh nên đốt rụi. Trở về đến Bắc Nam, gia đình tôi tiếp tục ở dưới ghe, tôi thấy thanh niên trong làng lén lút luyện tập võ nghệ, học đường quyền, đường roi, múa kiếm, múa thương…, họ tập diễn hành với tầm vông vạc nhọn. Cảnh tượng na ná như trong các truyện Tàu mà lúc lên sáu, lên bảy tôi đã đọc cho ông Cố tôi nghe. Rồi một ngày nọ, tôi thấy tên cò tây vẫn mặc áo sơ-mi, quần sọt trắng, đội nón cối trắng, hai tay bị trói, mình mẩy lấm lem bùn đất, bị thanh niên bắt dẫn đi trên đường, tôi không biết người ta giải y đi đâu, y có bị đưa đi “mò tôm” hay không. Tôi tưởng đâu sự cai trị của người Pháp đã chấm dứt rồi, nhưng sau đó người Pháp một lần nữa trở lại trú đóng tại làng tôi. HT: Thưa anh Hai An Phú, Hồi nhỏ nghe nói đến Tây là đã sợ rồi, nay nhơn anh Hai nhắc ông nội của anh cho phép thân phụ của anh cắt tóc ngắn vì sợ Tây tưởng mình là Phật Giáo Hòa Hảo rồi bắt chặt đầu, chỉ tưởng tượng thôi mà đã tản thần hồn rồi anh Hai. Nhờ anh giải thích mà tôi biết thêm khá bộn làng quê Bắc Nam của anh ngày xưa ấy. HAP: Hồi còn nhỏ, đi theo cha tôi vào một cái chùa Miên, tôi thấy trên tường có treo một bức tranh vẽ 3 người Miên châu đầu vào nhau, một cái nồi nước bắc lên trên 3 cái đầu đó, rồi đốt lửa lên nấu nước, một người “An Nam” (tên nước Việt Nam thời Pháp thuộc) đứng coi nấu nước, phía dưới bức tranh ghi lời nói: “Đừng nhúc nhích đổ nước của ông”. Theo các bậc tuổi tác, bức tranh đó do người Pháp vẽ để nhắc nhở, khích động người Miên căm thù người Việt đối xử tàn nhẫn với người Miên khi xăm chiếm nước họ. Đến thời Việt Minh, người Việt và người Miên trong làng cũng có xích mích nho nhỏ. Một bữa tôi thấy một toán thanh niên Miên trong làng, không rõ có phải do người Pháp xúi giục hay không, đeo cà tha (bùa Miên), nói súng bắn không lủng, ồn ào kéo đi đánh Việt Minh. Việt Minh cho nổ một phát súng (có lẽ tự chế), cả đám người Miên xanh mặt xanh mày bỏ chạy. HT: Rồi sao gia đình anh lại phải dời khỏi làng Bắc Nam, và về đâu anh Hai? HAP: Năm 1948, nhân chuyến đi bán xoài, mẹ và chị tôi đưa tôi ra tỉnh lỵ Châu Đốc học, gia đình tôi vẫn còn ở trên chiếc ghe và luôn luôn ở tư thế hễ yên thì ở, không yên thì chèo chống đi tản cư. Lúc bãi trường tôi có về thăm gia đình tại Bắc Nam. Tôi không nhớ chính xác năm nào, có lẽ năm 1950, gia đình tôi tản cư về quê ngoại ở An Phú, Châu Đốc; một số đồng hương vẫn còn tiếp tục cư ngụ ở Bắc Nam, vì họ coi Bắc Nam là quê cha đất tổ. https://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/bm%2022-6-22_files/image008.jpg Bản đồ huyện An Phú,thuộc tỉnh An Giang,nơi gia đình tác giả Khiêm Cung Dương văn Chung sinh sống trong thập niên 1950: đây cũng là nơi tiếp nhận dòng chảy đầu tiên của sông Hậu từ Campuchia vào Việt Nam. HT: Và anh còn nhớ năm nào làng Bắc Nam này lại thuộc hẳn bên Miên? HAP: Đến năm 1954, Pháp rút quân, khối Đông Dương gồm 3 nước Việt-Miên-Lào tan rã, có lẽ từ lúc đó người Việt mới hoàn toàn rời khỏi Bắc Nam vì sợ Miên “cáp duồn” (chặt đầu người Việt). HT: Từ bấy đến nay, có lần nào anh Hai về lại Cồn Bắc Nam thăm lại mộ phần ông bà không? HAP: Năm 2007 tôi có về Cồn Bắc Nam thăm đình làng mà bà con đã dời từ làng Bắc Nam về đó. Còn mồ mả ông bà tôi thì dời về đất nhà của chị tôi ở xã Đồng Ky. HT: Còn con sông Bắc Nam thi sao anh Hai ? Cá tôm nhiều lắm hông? Rồi có khi nào anh mê bắt cá tôm vùng nước ngọt sông sâu ấy rồi bỏ học không? Còn cá trên đồng vùng Bình Di, Bắc Nam nữa. Anh Hai rảnh rỗi kể cho em út nghe chơi anh Hai. HAP: Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng, Nghe Anh Hai hỏi đến con sông Bắc Nam, bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu ở nơi chôn nhau cắt rún hiện về trong đầu tôi. Trong Nội Ngoại Đều Thương tôi nói dòng sông đó là dòng sông kỷ niệm, nay có thể đặt cho nó thêm cái tên là dòng sông tiền hay dòng sông vàng bạc, vì nó là mạch sống của cư dân với quá nhiều cá tôm từ Biển Hồ đổ xuống. Làng Bắc Nam phía trước là sông, sau hè là rừng tre, không có đất để làm nhiều rẫy ruộng như ở Vĩnh Lộc, Vĩnh Trường, Phước Hưng, Đồng Ky…v.v., cư dân Bắc Nam sống bằng nghề cá mắm. Tôm càng xanh bò chầm chậm trên lớp rong dưới nước trong, cá trê, cá lóc, cá leo… lảng vảng ở mé nước ven sông, con nít như tôi cũng mê lắm, anh Hai à, chỉ cần lấy mũi chỉa ba phụp một cái là dính liền. Tôi cũng bắt cá bằng những cách nhẹ nhàng như giăng câu, đặt lờ… Vùng Bình Di cũng như Bắc Nam, đất thấp, mỗi năm có mùa nước ngập, khoảng tháng Bảy ta, nước từ từ dâng lên, ngập cao hơn mặt đất một hai mét, tới tháng Chín ta nước mới rút xuống, nước ngập mang theo phù sa và cá tôm vào đất liền, do đó mà đồng vùng Bình Di, Bắc Nam cũng có nhiều tôm, cá, ốc…v.v. ở các ao đìa. Ở xứ cá có rất nhiều chim cò, chúng nó bu lại để ăn cá. Hồi còn nhỏ tôi cũng mê bẫy chim cò lắm đó anh Hai. Tôi học cách của người lớn làm bẫy đạp đặt trên cạn, dụ cho con cò bước cẳng lên cái bẫy, cái vòng dây buộc xiết cái cẳng nó, còn bẫy mổ thì đặt trên đất có nước ngập lắp xắp, phía dưới cái dây thòng lọng có móc con cá linh sống đang lội, con cò muốn ăn con cá phải chõ mỏ qua cái thòng lọng, cái bẫy giựt, dây thòng lọng treo cổ con cò. Tôi muốn kể anh nghe cái trò tiêu khiển quái ác nầy để tôi sám hối đó anh Hai. HT: Anh Hai An Phú, Nghe anh kể cá tôm trên sông Bắc Nam thấy mà mê. Anh Hai rành ba cái vụ gài bẫy bắt cò nữa. Thiệt là tài dách. Tôi dưới này muốn bắt cò, cứ chiều chiều là đi cặp theo mấy vườn tre lúc cò dìa vườn tre để ngủ. Tôi khoái bắn nạng giàn thun. Mình đứng rình chờ cho con cò vừa đáp xuống hai chưn đang tìm nhánh tre để đứng; lúc đó nếu mình giương nạng giàn thun bắn một cái rẹt ngay cần cổ hoặc cái đầu, tệ lắm mới nhắm bắn cái mình nó vì bắn cái mình cò ít khi nào té liền mà nó còn gượng giương cánh bay tiếp, khi bị bắn bất ngờ con cò trúng đạn đất sét chới với rớt xuống đất liền. Nói thì nghe coi bộ dễ ăn vậy, nhưng khó bắn trúng cò lắm nhe anh Hai. Ở Mặc Cần Dưng mấy năm 1949, 1950, làng tôi có thằng cháu trong xóm tên là Bảo, kêu tôi bằng cậu dù nó lớn hơn tôi năm mười tuổi, nó bắn cò bằng nạng giàn thun theo cách tôi vừa kể thiệt là tài dách. Mười viên đạn đất sét lúc nào nó cũng được mười con là thường. Thịt cò mà xào mướp hương ăn ngọt lắm nhe anh Hai. Ngoài ra, nếu có gài bẫy, tôi chỉ biết loại bẫy cò ke thôi anh Hai, mấy loại bẫy anh kể, tôi có biết chút chút nhưng hổng rành cho lắm. HAP: Anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng, Tôi bắn nạng giàn thun dở lắm, ít khi trúng mục tiêu. Nghe anh nói cò xào mướp hương phát thèm, nhưng bây giờ mướp hương thì dễ kiếm chớ cò thì làm sao tìm ra, anh Hai. Tôi có nghe nhưng chưa hề thấy cái bẫy cò ke, anh Hai tả sơ cho anh em biết cái bẫy nầy ra sao đi anh Hai. HT: “Bẫy cò ke” thiệt tình cũng thông dụng như bẫy cần, bẫy đạp, bẫy bật anh Hai à. Hình dáng của nó cũng giống như các loại bẫy trên là có một cái cần làm bằng nhánh tre hay nhánh tầm vông tùy theo mình muốn gài bắt loài chim hay loài thu rừng nào mà mình muốn bắt với cái vòng thay vì hình tròn như vành rổ thì người ta làm cái vòng bằng hình tam giác; rồi cũng có cây bật gài với mồi bằng trái cò ke chin, khi chim vào ăn mồi, cây bật liền bật lên đập gãy cổ chim. Ngoài các loại bẫy cần, bẫy đạp, bẫy bật, bẫy cò ke, vùng kinh xáng Bốn Tổng của tôi còn có bẫy lỗ, bẫy cặp(còn gọi bẫy kẹp), bẫy đạp nữa để dùng vào việc gài bắt các loại thú rừng hoặc chim chuột nữa nhe anh Hai. Những loại bẫy này phần lớn là do kinh nghiệm bắt chim cò cùng rắn, chồn, heo rừng, hươu, nai từ lúc mới khai hoang đất lâm làm ruộng mà có và chính nông dân chế biến ra ráo trọi. Trong cuốn Nội Ngoại Đều Thương, anh Hai có viết truyện ngắn "Thằng Chum Xứ Cá"(2). Truyện này anh sáng tác trong hoàn cảnh nào thưa anh Hai? Thằng Chum có thiệt ngoài đời không? Nếu có, nó còn ở lại làng Bắc Nam của anh hay dời đi nơi nào? Những năm tháng sau này, có lần nào anh gặp lại Thằng Chum không, anh Hai? HAP: Tôi viết truyện “Thằng Chum Xứ Cá” là viết theo lời tâm sự của Thằng Chum. Thằng Chum có thật, hoàn cảnh của nó y hệt như tôi, số phận đẩy đưa thế nào mà nó và tôi cùng đi định cư ở Úc một lượt, bây giờ ngày nào hai đứa cũng gặp nhau. HT: Rất vui được biết nhân vật "Thằng Chum" có thật và đang ở gần anh. Mỗi ngày hai anh gặp nhau và uống cà phê nhắc chuyện xưa còn gì vui bằng, phải hông anh Hai? Trong truyện "Thằng Chum Xứ Cá" anh kể, không gian là làng Bắc Nam, thời gian câu chuyện vào năm1947. Lúc đó thằng Chum mười tuổi. Nó sanh ra trong một gia đình nghèo. Sau phải lưu lạc lên Biển Hồ sống nghề cá mắm. Những năm tháng ấy, anh có kể cảnh má Chum xúc cá bằng cái rổ, miệng có đường kính cả thước tây, gọi là "rổ bộng". Sao người ta kêu là "rổ bộng" anh Hai? HAP: Kính anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng, Tôi cũng không biết tại sao cái rổ lớn như vậy kêu là “rổ bộng,” dầu lớn hay nhỏ, cái rổ nào cũng có cái lòng trống (bộng, không đặc) để đựng đồ. Đặc biệt, bà-con chỉ gọi cái rổ lớn sâu lòng là rổ bộng. HT: “Rổ bộng” trên vùng Bắc Nam của anh, dưới miệt kinh xáng Bốn Tổng (Núi Sập), Mặc Cần Dưng (Châu Thành, Long Xuyên), Tân Bình (Lấp Vò), đâu đâu cũng đều gọi là rổ xúc hết anh Hai. Gọi rổ bộng có lẽ do miệng rộng như miệng cái ống bộng chăng? Trở lại chuyện cha của Chum hay đi nhắp cá lóc hoặc câu rê, giăng câu, đặt lờ, đặt lọp. Anh có giải nghĩa: "Câu rê khác với nhắp cá lóc ở chỗ nhắp thì lưỡi câu móc vào đuôi con cá nhỏ còn sống như cá linh, thả dây nhợ câu xuống nước cho con cá mồi lội, cá lóc đớp cá mồi, mắc lưỡi câu. Còn câu rê dùng mồi giả là một mảnh thiếc nhỏ uốn hơi cong gắn vào sợi nhợ, gần lưỡi câu, thả mảnh thiếc và lưỡi câu xuống nước, di chuyển mảnh thiếc qua lại cho nhanh, cá lóc thấy mảnh thiếc chiếu loang loáng, tưởng cá mồi, phóng lên đớp, mắc câu" (3). Ở chỗ tôi dưới này, câu nhắp giống với câu nhắp trên Bắc Nam (An Phú), nghĩa là cũng dùng mồi chạy như cá linh, cá rô, cá rằm, móc lưỡi câu đằng đuôi con mồi và bỏ lưỡi câu chìm xuống mặt nước chừng một tấc rồi cầm cần câu nhắp nhắp nơi các gốc gáo, hoặc trong đống chà, nhợ câu ngắn, cần câu vừa tay cầm, không quá ngắn và cũng không phải dài như cần câu rê, câu phượt. Còn câu rê còn gọi câu quăng, cần câu dài, nhợ câu dài, quăng nhợ câu móc mồi ếch con, nhái, cóc thật xa rồi kéo rê từ từ lại, làm cho cá lóc tưởng con mồi đang còn sống nhảy ngang mà táp miếng mồi. Ngoài ra, ở vùng tôi còn có câu phượt. Cấn câu và mồi câu, nhợ câu cũng giống y như câu rê nhưng khác cách kéo mồi, câu phượt kéo nhanh hơn câu rê. Cả hai loại câu này người ta dùng cọng rau muống gắn thêm vào lưỡi câu từ mũi tới chột lưỡi câu nhằm mục đích làm cho lưỡi câu không bị vướng cỏ khi mình rê hay phượt. Cũng nhớ anh kể thời kỳ mặc quần áo bằng bao bố tời và nạn rệp rận cắn. “Thằng Chum Xứ Cá" cũng bị nạn rận cắn như vậy. Ngày nay, hai anh có lần nào ngồi nhắc với nhau về những ngày cơ hàn với nạn mặc bố tời và rận cắn này hông anh Hai? HAP: Hình như cái vui sướng mau qua, còn cái khổ cực thì khó mà quên được, anh Hai à! Thằng Chum cũng như tôi, thường nhắc lại cảnh nhà nghèo phải mặc bao bố, vải ta, rận cắn nổi mẩn đỏ một vòng lưng quần, cắn răng chịu ngứa. HT: Rồi còn ngủ nóp nữa. Anh có kỷ niệm gì về những lần ngủ nóp này, thưa anh Hai? HAP: Thưa anh Hai, Như tôi đã tả chi tiết trong Nội Ngoại Đều Thương thế nào là cái nóp đệm. Thằng Chum thường nhắc chuyện ngày xưa nó ngủ nóp trên khoang ghe, rồi lăn trở sao đó mà cả người lẫn nóp lọt tuốt xuống sông, nó may mắn mở miệng nóp ra được, lội vào bờ, xém chút nữa thì gia đình nó cúng cơm cho nó rồi! Vùng Bắc Nam có nhiều muỗi mòng, chiếc nóp làm bằng đệm lá bàng rất dầy, muỗi không chích thủng, người nằm ngủ bên trong không bị muỗi chích như ngủ mùng nằm sát vách mùng. Trước khi vào nóp, phải giở miệng nóp ra, đậy miệng nóp lại nhiều lần để quạt cho muỗi bay đi nơi khác rồi lẹ lẹ chui vào nóp, đóng nóp lại; có con muỗi nào còn sót lại trong nóp, nó cứ đờn ò e hoài, không ngủ được, phải ra khỏi nóp để quạt trở lại. Cái nóp có thể xếp gọn lại như cái túi ngủ ở các nước phương Tây, mang theo người để khi cần mở ra ngủ, [mà] cái nóp lại rộng rãi hơn cái túi ngủ nhiều. Có điều bất tiện là người nằm trong nóp không thấy được bên ngoài, cho nên hồi phong trào đạo đâm đạo lụi, tôi cũng như Thằng Chum, sợ bị đâm, đem nóp vào ngủ trong mui ghe, vừa ngủ vừa lo, thấy toàn ác mộng. HT: Vừa rồi anh Hai có nhắc về việc ngủ nóp “Có điều bất tiện là người nằm trong nóp không thấy được bên ngoài, cho nên hồi phong trào đạo đâm đạo lụi, tôi cũng như Thằng Chum, sợ bị đâm, đem nóp vào ngủ trong mui ghe, vừa ngủ vừa lo, thấy toàn ác mộng.” Hồi mấy năm còn nhỏ tôi thường hay theo mấy ông anh ngủ giữ bò trên Mặc Cần Dưng, tôi cũng ưa ngủ nóp. Ngủ nóp có cái vui là lúc mình mới chun vô nóp nó hơi ngộp thở một chút, nhưng sau đó một đỗi thì từ từ quen hơi và bớt ngộp. Vậy mà ngủ nóp ở trên đồng riết rồi quen, ngủ mùng vải giăng giữa đồng hổng bằng; vì ngủ mùng ngoài trời, lúc nửa đêm sương xuống ướt mùng lạnh lắm, chịu hổng nổi nhe anh Hai; do vậy ngủ nóp coi chừng bò, coi chừng lúa hoặc ngủ giữ đìa, canh cá nhảy hầm là hết sẩy. Trong phần vừa trích, anh hai có nhắc anh với “Thằng Chum” ngủ nóp sợ bị “đạo đâm đạo lụi” đâm, làm tôi nhớ hồi những năm thập niên 1950 vùng quê ngoại của tôi ở Mặc Cần Dưng, rồi Ba Bần, Kinh Xáng Bốn Tổng, Chắc Cà Đao, Hòa Bình, Bình Mỹ, Bình Thuỷ, Phú Hòa, Định Mỹ, Vàm Cống, Lấp Vò, Tân Bình, Hội An Đông, Mỹ Luông, Chưn Đùn, Cái Hố, Nhơn Mỹ, Mỹ Hòa Hưng; rồi Long Châu, Long Hưng, Long Sơn, Long Phú, Vĩnh Xương, Vịnh Đồn, Tân An thuộc vùng Tân Châu … đâu đâu cũng đồn có “đạo đâm đạo lụi” đêm đêm đi tìm đâm nhiều người như câu chuyện anh kể trong Nội Ngoại Đều Thương: “Ở miền Tây, cụ thể là ở Châu Đốc, Long Xuyên vào cuối thập niên năm mươi, tin đồn có phong trào đạo đâm, đạo lụi. Nghe nói, cũng giống như những kẻ ôm bom tự sát, người theo đạo nầy nếu đâm chết mười người thì biết bay. Tin dữ lan cả vùng, nơi nầy có người bị đâm, nơi kia có người bị lụi, với nhiều tình tiết giựt gân kinh khủng. Chỉ nghe đồn, chưa ai thấy tận mắt bị đâm, nhưng ai cũng nơm nớp lo sợ bị mất mạng vì bọn tà đạo nầy.”(4) Hồi đó, tôi còn rất nhỏ nhưng tôi nhớ ở nhà quê nhà nào cũng làm một cái mõ tre treo sẵn nơi vách nhà, có nhà còn làm tù và bằng sừng trâu để phòng khi có ai trong xóm tri hô có “đạo đâm đạo lụi” là cả xóm cả làng cùng hè nhau đánh mõ, thổi tù và báo động khắp làng xóm. Nhớ có lần người ta còn đồn có một tên đạo đâm ngoài ấp Bình Phú, thuộc xã Bình Hòa, gần mé sông Cái dưới vàm rạch Mặc Cần Dưng, khi bị dân chúng phát giác và đánh mõ rượt chạy có cờ; dồn về phía có cái hầm nuôi cá, bị rượt nột quá, hắn bèn nhảy xuống hầm cá này và dân chúng bao vây kêu hắn lội lên nhưng hổng thấy tăm hơi đâu hết. Sau người ta mới hè nhau tát cạn hầm cá này, nhưng chẳng thấy tên đạo đâm này. Vậy mà rồi, như anh nói, người nầy đồn, người kia đồn rồi lan truyền khắp nơi làm sắp nhỏ như tụi tôi tối nào cũng hổng dám ngủ gần vách nhà dừng bằng lá dừa nước, mà trải chiếu giăng mùng ngủ giữa nhà đó anh Hai. Nói gì tối tối không dám ngủ gần vách nhà, mà chiều chiều hơi xế bóng một chút là bà con lo cụ bị thắp nhang cúng kiến bàn ông Thiên thiệt sớm để chuẩn bị vô nhà đóng cửa vì sợ đạo đâm đạo lụi xuất hiện tìm đâm mình nhe anh Hai. Giờ nhắc lại với anh chuyện cách nay sáu bảy chục năm mà còn ớn thần hồn. Vậy, thưa anh Hai, hồi đó do đâu mà có “đạo đâm đạo lụi” này? Do ai truyền bá và họ làm vậy là nhằm mục đích gì vậy anh Hai? HAP: Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng, Vụ “Đạo đâm đạo lụi”, anh em mình chỉ nghe tin đồn thôi, nhưng phong trào đó quá sôi động, ai cũng kinh hoàng. Không rõ ai gây ra phong trào, nhưng chắc chắn không phải do một cá nhân mà có cả một tổ chức mới làm nổi việc đó; nhưng tôi nghĩ có lẽ người ta muốn đánh lạc hướng dân chúng miền Tây, muốn mọi người suốt ngày chỉ chú tâm đến vụ đạo đâm đạo lụi, không bàn tán việc gì khác. Tôi không nhớ rõ phong trào đạo đâm đạo lụi xảy ra năm nào ở thập niên 50 (nếu anh Hai nhớ, xin nói cho biết). HT: Thưa anh Hai An Phú, Về các ông “Đạo” nơi các làng quê miền Tây Nam phần của mình, hồi nhỏ tôi nghe kể nhiều lắm. Theo cuốn Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm (5) có kể ông Đạo Tưởng, ông Đạo Gò Mối; riêng ông Đạo Tưởng ở Tân Châu năm 1939 dấy loạn; rồi trong cuốn Nửa Tháng Trong Miền Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu cũng có nhắc ông Đạo Tưởng này, sách viết: “Tên phù thủy ấy là “đứa ở” của nhà văn Nguyễn Chánh Sắt, tên là Ba Quốc, bỏ việc của chủ ngang xương để đi “làm trời.”Mới đầu cất am ngồi mơ tưởng đâu đâu, nên có tên là Đạo Tưởng. Y tuyên bố rằng có đạo thuật làm sứng câm họng và chính y sau nầy sẽ là Minh Hoàng. Vậy mà cũng có người tin được. Họ góp tiền dựng chùa, cung phụng y phục y như ông vua thật. Em của ông được tôn xưng là ngự đệ, những người thân tín của y thì được đặt chức nguơn soái, tiên phuông… như một triều đình thật.”(6) Ngoài ra, trong cuốn “Dạo chơi tuổi già”, nhà văn Sơn Nam, có kể: “Nhớ hồi còn bé, khoảng năm 1934 về sau, phía Bảy Núi vá các hải đảo thỉnh thoảng lại xuất hiện vài “ông đạo” mà sau nầy người đời còn nhớ, thí dụ như Đạo Nổi, Đạo Đất, Đạo Lửa… những kiểu tu hành cá thể, mỗi người một giáo lý với nghi thức hành hạ thân xác riêng…. Những đạo sĩ quái dị ấy lần hồi mất uy tín, chẳng còn ai ái mộ, trong số đồng bào nơi xa xôi, kém giao lưu, thiếu sách báo, phương tiện truyền thông vẫn là “tin đồn.”(7) Thưa anh Hai, sách vở thì vậy, nhưng hồi nhỏ lúc tôi còn ở trên Măc Cần Dưng, làng Bình Hòa cũng có nhiều ông đạo như ông Đạo Rỡ là con của cậu Mười Chót, bà con bên ngoại tôi. Từ hồi nhỏ tới lớn ông Đạo Rỡ này chuyên làm ruộng nhưng bỗng một hôm ma nhập ông lên bà xuống và rồi ông tướng ứng xưng là Đạo Rỡ, trị bá bịnh. Thường ông hay bận bộ áo quần bà ba trắng, trông rất thư sinh bạch diện, ốm cao lêu nghêu. Bà con xóm nhà Lầu, cạnh bên nhà cậu Mười Chót hổng ai tin tài trị bịnh xưng Ông Đạo của ông nhưng khách thập phương tin nườm nượp, họ chèo ghe bơi xuồng tới đậu đặc bến nhà cậu Mười chờ ông đạo chữa bịnh. Người ta mang lại gà vịt, nhang đèn cúng vái rợp trời có tới hằng trăm người mỗi ngày. Sau nầy tôi hổng nhớ ông Đạo Rỡ nầy giải nghệ lúc nào nhưng chắc chắn một điều là dân quê khắp nơi các làng quê tin tưởng ông đạo nầy là do mê tín dị đoan thôi anh Hai. Lúc bấy giờ khắp nơi, nhứt là bên miệt Vàm Nao, Nàng Mau, Cái Xoài, Long Kiến về phía Cù Lao Ông Chưởng dân chúng đồn nhiều ông đạo linh ứng như ông Đạo Nằm, ông Đạo Tiêm, ông Đạo Nước Lạnh chuyên trị bá bịnh. Còn thầy pháp trị ma cũng nhiều vô số kể. Dường như làng nào cũng có thầy pháp dùng bùa trị ma. Chẳng hạn khúc trên mương ông Nhà Lầu một đỗi, gấn chùa Tây An của ông Đạo Cậy, có thầy Tám Sửu trị ma bằng cách bắt ma bỏ vô hũ; xéo xéo bên sông rạch mặc Cần Dưng, gần nhà cậu Ba Huề, cũng có thầy pháp trị bịnh ma mà tôi quên tên rồi. Miệt Tân Bình (Lấp Vò) có nhiều thầy pháp trị ma giống trên làng Bình Hòa (Mặc Cần Dưng), như thầy Bảy Huê. Chiều nào, cứ gần chạng vạng là nghe trống thầy pháp đánh nghe lung tung, lung tung là sắp nhỏ tụi tôi hổng dám ra sau vườn đi tiểu vì sợ ma. Hổng biết sao thời ấy ma quỷ lộng hành quá mạng vậy và có thiệt là có ma quỷ hông anh Hai? Còn “đạo đâm đạo lụi,” thiệt tình là tôi hổng biết ai bày ra như vậy và bày ra lúc nào; nhưng phải công nhận những năm 1954-1956 là thời kỳ đạo này nổi lên rầm rộ hết biết nhe anh Hai. HAP: Kính anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng, Nhân khi bàn về đạo đâm đạo lụi, anh Hai kể quá nhiều thứ đạo, nghe đã luôn đó anh Hai. Anh Hai nói 1954-1956 phong trào đạo đâm đạo lụi nổi lên rần rộ, như vậy phong trào nầy đã lan ra khắp nơi miền Tây vào dạo ấy rồi. Tôi đi Sài Gòn học từ năm 1955, bãi trường về Châu Đốc thăm nhà, thường đi xe chiều, khuya mới về đến Châu Đốc, kêu người chị bà con bạn dì mở cửa, chị vừa mở cửa vừa giơ cao cây gài cửa lên thủ, còn tôi cũng đưa cái cặp học trò lên chuẩn bị đỡ nếu bà chị sợ quá rồi đập ẩu …. Như vậy sau 1955 phong trào nầy vẫn còn sôi động ở Châu Đốc. Nói vể Ông Đạo Nổi, hồi nhỏ tôi có gặp ông ấy đi ngang nhà tôi ở Bắc Nam nhiều lần, người mập mạp, vui tánh, nhưng nói chuyện “lừng khừng,” luôn dẫn theo một nữ “thị giả” cũng có vẻ “lừng khừng,” nhưng không bao giờ nói chuyện. Ông già tôi cắc cớ lắm, lúc ông đạo đang ngồi nổi trên dòng sông Bắc Nam, hai tay vỗ nước kêu bùm bum, ông già lặn dưới nước, quờ quạng coi ông đạo có độn cái gì phía dưới hay không mà ngồi vững như vậy. Ông già tôi xác nhận là không thấy có độn. Có thể ông đạo nổi có luyện khí công. HT: Thưa anh Hai An Phú, Nhắc các ông Đạo thì vùng mình hồi thời anh và tôi, ôi thôi nhiều ông Đạo nổi lên như vậy, theo tôi là do dân quê mình dễ tin người, dễ sùng bái, dễ mê tín nên cứ nghe có ai xưng mình là ông Đạo thì hổng cần biết thiệt giả gì, rồi cứ rủ nhau đến chiêm bái và nhờ vậy mà có một thời nhiều ông đạo nổi tiếng như cồn. Còn đời xưa, thời Phật Thầy Tây An, theo sách vở và nghe ông bà xưa kể lại thì cũng có những người tài theo Phật Thầy cứu người, cứu đời, như các vị giáo chủ hoằng pháp như ông Đạo Đèn, quê ở sốc Lương Phi, núi Tà Lơn, Tịnh Biên, Châu Đốc; Đức Bổn Sư, ngài chính danh là Ngô Lợi, quê quán Dội, gần Mộc Bài, thuộc vùng giáp giới Miên-Việt, tỉnh Châu Đốc; ông Sư Vãi Bán Khoai không rõ quê quán nhưng thường đến xã Vĩnh Gia thuộc kinh Vĩnh Tế (Châu Đốc) trị bịnh cứu nhơn độ thế; ông Cử Đa, quê ngoài Phù Cát (Qui Nhơn), lúc mới tới vùng Bảy Núi, nhiều người nghe tiếng nói của ông phát ra có giọng miền Trung, nên dân địa phương cũng gọi ông là Ông Thầy Huế .…(8) Trở lại tác phẩm Nội Ngoại Đều Thương, anh Hai có nhắc chuyện má anh thích hàng vải cẩm tự may cái quần để mặc đi đám tiệc nhưng vì nhà nghèo nên bác không mua nổi cái quần loại vải nầy, câu kết anh viết rất cảm động : “Quần mẹ rách vá nhiều chỗ. Gặp người bán hàng vải dạo, mẹ ngắm tới ngắm lui hàng cẩm tự, mẹ thích lắm. Nhưng rồi nhìn lại đám con nheo nhóc, mẹ không lựa mua cẩm tự nữa. Mẹ tiếp tục mặc cái quần cũ. Bây giờ rất nhiều hàng vải đẹp, phẩm chất không thua hàng cẩm tự, các con có tiền để mua sắm cho mẹ. Nhưng mẹ không còn. Nhớ thương mẹ quá, mẹ ơi!” (9) Đọc mấy dòng kết của anh làm tôi cũng nhớ má tôi nghèo như vậy, muốn khóc. Thưa anh Hai, sao ngày xưa người ta gọi các loại hàng lãnh Tân Châu là Cẩm Tự vậy anh Hai? Xin anh cắt nghĩa giùm cho em út hiểu thêm nhe anh Hai. HAP: Về tên hàng vải “cẩm tự,” tôi nhớ trên mặt hàng có dệt những chữ vuông cạnh, rõ nét. Theo Từ điển Hán Việt, “cẩm” là gấm vóc, “tự” là chữ, tôi nghĩ “hàng cẩm tự” là một loại gấm vóc có dệt chữ lên trên mặt. Anh Hai là nhà thâm nho, nếu thấy tôi giải thích không đúng, xin anh chỉnh giùm. HT: Thưa anh Hai An Phú, Anh cắt nghĩa “cẩm tự” vậy là quá rõ rồi. Chữ dệt trên gấm. Theo Nguyễn Văn Kiềm hàng cẩm tự có nhiều loại như hàng lụa dệt ra loại trơn gọi là cẩm tự trơn, loại có bông thì gồm cẩm tự bông cúc, cẩm tự mặt võng, cẩm tự mặt đệm lớn, cẩm tự mặt đệm nhỏ v.v…(10) Nhà bà ngoại sắp nhỏ con tôi ở ngay xã Tân An (Tân Châu) xứ của những hãng dệt hàng lãnh cẩm tự, sau vườn có trồng nhiều cây mặc nưa hằng năm bán cho các lò nhuộm lãnh. Loại trái này nhuộm lãnh cẩm tự không bay màu nhe anh Hai, càng mặc cũ hàng càng bóng, vải mịn và mềm mại lắm. HAP: Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng, Anh Hai nhắc tôi mới nhớ đặc điểm của hàng cẩm tự là mặc càng cũ càng bóng, mịn và mềm. Nguồn tài liệu tham khảo của anh Hai quả thật dồi dào và vô giá, chắc anh đã khổ công góp nhặt và lưu giữ rất nhiều năm mới có được như vậy. HT: Anh Hai An Phú, Giờ xin trở lại cuốn Nội Ngoại Đều Thương của anh Hai, ở lời mở đầu anh Hai có viết: “Tôi không phải là nhà văn. Từ nhỏ đã thích đọc văn của người khác viết, nhưng bản thân mình chưa viết được một bài văn nào. Về già rảnh rỗi viết để giải khuây, nhớ gì viết nấy. Bè bạn có dịp đọc được, khuyến khích viết thêm, nên tiếp tục viết rồi in thành quyển sách nhỏ này để làm kỷ niệm.” Và rồi tôi đọc lời nhận xét của nhà văn Vũ Thất qua bài “Đọc Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung” trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, tác giả viết: Bằng vào lời phi lộ ‘Về già rảnh rỗi viết để giải khuây, nhớ gì viết nấy,’ thì hẳn ông bắt đầu viết vào lứa tuổi …tri thiên mệnh. Thế nhưng những gì ông nhớ và viết ra thì thật đáng kinh ngạc so với số tuổi của ông. Tiếp theo, tác giả Vũ Thất nhận định về cách viết của Khiêm Cung: Lối kể chuyện của ông là lối kể chuyện trinh thám, khiến tôi gần đứng tim và luôn mong mỏi cả gia đình ông được thoát đi suông sẻ .… Nhưng hãy nghe ông tỏ lời kết thúc chuyến vượt biên: ‘Trái đất tròn, nước Việt Nam mình cũng tròn, gia đình tôi đi vòng vòng rồi trở về chỗ cũ.’ Ông thất bại chua cay, mất bao nhiêu tiền của mà vẫn giữ nụ cười hóm hỉnh… Để rồi từ đó, nhà văn Vũ Thất đưa ra nhận xét về cách chọn lọc, sắp xếp các truyện trong Nội Ngoại Đều Thương như sau: Có lẽ chính nhờ tinh thần hài hước đó mà Khiêm Cung đã tuyển chọn bài và cố tình sắp xếp theo thứ tự thời gian đột biến: từ một quá khứ ấu thơ rồi bất ngờ kể chuyện tuổi già, từ tuổi già bỗng quay lại thuở học trò, từ thuở học trò chợt nhảy sang thời… mất nước. Thời gian đột biến kéo theo không gian đột biến. Từ quê nội sang quê ngoại. Từ quê nhà chuyển sang quê người. Đề tài cũng biến đổi liên tục. Từ gia đình đến hàng xóm. Từ thầy cô đến bạn bè. Từ tập tục lễ nghĩa đến chuyện cũ tích xưa. Từ ngôn ngữ bất đồng đến con người bất bình đẳng… Hiện tại-quá khứ xem ra không dính gì nhau mà lại đan nhau một cách một cách khéo léo, tự nhiên và lôi cuốn. Sau cùng, anh Vũ Thất kết luận: Với một trí nhớ lạ thường, một tri thức quảng bác, với lời văn bình dị sáng sủa đôi khi điểm chút khôi hài ý nhị, tôi không tin tập truyện Nội Ngoại Đều Thương được hình thành như ông bày tỏ: “Về già rảnh rỗi viết để giải khuây”. Ông nói gì thì nói, tự tập truyện của ông đã hàm chứa đầy đủ các lời nhắn nhủ về đạo làm người Việt Nam, rất cần cho con cháu ông, cho con cháu tôi và cho tuổi trẻ hải ngoại.(11) Là tác giả của tập truyện Nội Ngoại Đều Thương ấy, anh có cảm tưởng ra sao qua những lời nhận định vừa rồi của nhà văn Vũ Thất, anh Hai? HAP: Sau khi Cuốn truyện Nội Ngoại Đều Thương ra mắt, có nhiều độc giả thương mến coi tôi như là một nhà văn, tôi trân trọng cảm ơn chân tình đó. Nhưng bản thân tôi cho tới ngày hôm nay vẫn nhận thấy rằng mình chưa phải là một nhà văn. Tôi nhớ quê nội, làng Bắc Nam, ngay từ lúc tôi ra tỉnh lỵ Châu Đốc học, vì bận lo học hành, không thường xuyên về thăm nhà, thăm quê. Sau đó, gia đình rời Bắc Nam đi tản cư về quê ngoại ở An Phú-Châu Đốc, biết chắc là không bao giờ có dịp trở về làng cũ nữa, tôi càng nhớ Bắc Nam nhiều hơn. Còn đối với làng Vĩnh Lộc và cả khu vực quận An Phú còn phảng phất nụ cười, tiếng nói và cử chỉ trìu mến của Bà Ngoại, của cậu mợ, các anh chị cô cậu của tôi và bà con, láng giềng của Bà Ngoại tôi tạo thành những kỷ niệm đẹp mà tôi không bao giờ quên được. Sống ly hương, chung quanh mình hầu hết là những người khác chủng tộc, màu da, những kỷ niệm êm đềm, đẹp đẽ nơi quê nội, quê ngoại hiện về, tôi vội ghi ra những kỷ niệm đó thành cuốn truyện ngắn, Nội Ngoại Đều Thương là một lối thoát cho những tình cảm sâu đậm, những luyến nhớ không nguôi còn ẩn ức trong lòng. Những tình cảm, những luyến nhớ đó có thể trở thành hương vị của món ăn tinh thần, Món ăn có ngon là nhờ hương vị ngon chớ không phải là do đầu bếp giỏi. Nội Ngoại Đều Thương là truyện kể, còn rất nhiều khuyết điểm, tôi tự thấy chưa phải là một nhà văn. Dầu sao, độc giả không quá hững hờ với cuốn truyện là một khích lệ lớn lao đối với người viết. Tôi đã ứa nước mắt vì cảm động khi đọc hai bài nhận xét về cuốn truyện Nội Ngoại Đều Thương, một bài của nhà văn Lương Thư Trung (mà cũng là Anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng) đăng nơi phần sau cuốn truyện và trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, đã soi thấu tâm can của tác giả; một bài khác của nhà văn Vũ Thất viết sau khi cuốn truyện phát hành, cũng đã đăng trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, Người Việt Boston, Saigon Echo và nhiều tờ báo đìện tử ở Hoa Kỳ, cùng những tờ như tờ Văn Nghệ Tuần Báo, Bán Tuần Báo Việt Luận ở Úc châu …. Cả hai bài viết rất vắn gọn, nhưng rất đầy đủ ý nghĩa, giới thiệu những điểm nổi bật của cuốn truyện, nhờ vậy mà có thêm nhiều độc giả tìm đọc Nội Ngoại Đều Thương. Tôi xin chân thành cảm ơn hai tác giả đã nhiệt tình giới thiệu cuốn truyện với đồng hương khắp nơi. Nhân tiện, tôi xin báo một tin vui nho nhỏ: Cuốn truyện ngắn Nội Ngoại Đều Thương được Austlit ghi nhận vào thư mục của tổ chức. Austlit là một hệ thống thư viện do 12 trường đại học tại Úc và Thư Viện Quốc gia Canberra phối hợp thành lập. Austlit có chuyên viên từng sắc tộc phụ trách đọc và tuyển chọn để ghi nhận vào thư mục những tác phẩm của người Úc (bất kỳ nguồn gốc nào), sáng tác và phát hành tại Úc. Đọc Nội Ngoại Đều Thương, Austlit thấy có những bài dính dáng đến Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, họ hỏi thăm tôi về anh Nghĩa, tôi đã gởi cho tổ chức đó mượn cuốn Con Đường Cũ và sẽ gởi cho họ tiểu sử của anh Nghĩa. Hy vọng sách của anh Nghĩa cũng sẽ được ghi nhận vào thư mục Austlit. HT: Thưa anh Hai An Phú, Nhơn anh có nhắc nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, cũng như trong lời giới thiệu khi vào cuộc trò chuyện này tôi có nhắc tác giả Con Đường Cũ: “Viết về vùng Xà Tón (Tri Tôn) chắc chắn không ai qua nổi nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa.” Mới đây tôi có đọc được “Những bức thư đầm ấm”(12), là những lá thư thăm hỏi và trao đổi giữa nhà văn Nguyễn Hiến Lê và thi sĩ Quách Tấn (từ 1966 đến 1984). Nhơn bàn về viết địa phương chí, lá thư ghi Nha Trang ngày 27-4-1980, Quách Tấn viết: “Viết địa phương chí cũng như viết truyện ký, phải viết bằng “cây bút trí” chấm vào “bình mực lòng” thì mới làm cho cảnh sống người sống. [Cho dù] viết bằng cây bút của người vẽ địa đồ, của người chép lý lịch, dù đúng từng ly từng tí, cũng không phải là một mỹ nghệ phẩm. Phải chăng anh? Theo tôi, phải yêu người yêu cảnh, viết mới hay nổi. Dường như anh đã đồng ý rồi.” (13) Trong lá thư hồi âm ghi Sài Gòn ngày 10-6-80, Nguyễn Hiến Lê viết: “Viết địa phương chí, đúng như anh nói, phải có lòng (tôi bảo là có tâm hồn) lại phải có cặp mắt nữa. Phạm Trung Việt thiếu cả hai cái đó. Hai tập Nươc Non Bình Định và Xứ Trầm Hương của anh, theo tôi, khó có ai viết hơn.”(14) Từ đó, tôi mới nghiệm ra Khiêm Cung Dương Văn Chung và Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa là những tác giả đã có đủ hai yếu tố ấy qua những trang sách viết về bức tranh quê làng Bắc Nam (An Phú) cũng như Xà Tón (Tri Tôn) thuộc địa giới tỉnh Châu Đốc vậy. Xin chân thành cảm ơn anh Hai đã bỏ thì giờ chia sẻ nhiều chi tiết về một khoảng thời gian dài sáu bảy chục năm với những mùa cá tôm đầy trong sông nước vùng Bắc Nam (An Phú). Đồng thời qua cuộc trò chuyện này, anh cũng phác họa lại những nét chính về các sinh hoạt xã hội thời tao loạn lúc bấy giờ để giúp cho tôi và các bạn trẻ có dịp hiểu thêm về một vùng đất xa xôi mãi tận miền biên giới Việt-Miên, qua các mùa màng cùng những lễ tục. Đây thật là một cuộc trò chuyện thú vị và bổ ích. Kính chúc anh Hai luôn luôn dồi dào sức khỏe và hy vọng anh sẽ tiếp tục chia sẻ cùng bạn đọc nhiều mẩu chuyện lý thú nơi làng quê của anh ngày xưa trong các bài viết mới sau này. Kính xin anh chuyển lời thăm chị Hai và kính chúc chị Hai cùng các cháu mạnh khoẻ. Trân trọng kính chào anh Hai. HAP: Cám ơn anh Hai Trầu. Khi nào anh chị Hai rảnh, kính mời anh chị ghé An Phú chơi để anh em mình có dịp tiếp tục hàn huyên. Kính chúc anh chị Hai và các cháu vui khỏe. https://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/bm%2022-6-22_files/image018.jpg Nhà văn Khiêm Cung Dương văn Chung và phu nhân Nguyễn Ngọc Phấn Cước chú: 1/ Tập truyện Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung Dương Văn Chung, nhà xuất bản Quán Âm Sơn, Tân Tây Lan, năm 2008, trang 1. 2/ Thằng Chum Xứ Cá, trong NNĐT sđd, gồm bốn phần: Nhà nghèo, Biển Hồ, Ngủ nóp, Rắn mắt, từ trang 74 đếm trang 86 3/ Đạo đâm đạo lụi, NNĐT sđd, trang 196 4/Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm & Huỳnh Minh (31-12-1964), nhà xuất bản Thanh Niên tái bản, năm 2003. 5/ Nửa Tháng Trong Miền Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu,1970, Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản (không ghi năm), trang 66. 6/ Thất Sơn Mầu Nhiệm của Nguyễn Văn Hầu, do Từ Tâm xuất bản năm 1955; Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản (không ghi năm), trang 67. 7/ Dạo Chơi Tuổi Già của Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ, năm 2002, trang 166. 8/ Thất Sơn Mầu Nhiệm, sđd, trang 113. Quyển Tìm hiểu An Giang Xưa của Võ Thành Phương (nxb Văn Nghệ An Giang, 2004) có liệt kê những người tài theo Phật Thầy cứu người, cứu đời như: a/ Đức Cố Quản Trần Văn Thành quê ở Cồn Nhỏ, làng bình Thạnh Đông, tổng An Lương, tỉnh Châu Đốc. b/ Ông Tăng Chủ, họ Bùi nhưng tên thiệt của ông thì hổng ai biết tên gì, trên bia mộ của ông ở Nhà Bàng (Tịnh Biên) chỉ ghi “Tăng Chủ Bùi Thiền Sư” mà thôi. c/ Ông Đình Tây tên Bùi văn Tây, quê quán ở đâu không rõ, có người nói ông ở Năng Gù, có người nói ông ở Nhơn Hòa, cả hai nơi này đều thuộc tỉnh Châu Đốc. d/ Ông Đạo Xuyến quê ở Ba Giác (Bến Tre), ông lập chùa Châu Long Thới và khai phá đất Cái Dầu. e/ Ông Đạo Lập, tên thật Phạm Thái Chung, người làng Đa Phước, Cồn Tiên, thuộc An Phú của anh, ông lập chùa Bồng Lai ở Bài Bài thuộc xã Nhơn Hưng, quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc. f/ Ông Đạo Ngoạn nguyên danh là Đặng Văn Ngoạn, sanh quán làng Nhị Mỹ, tổng Phong Thạnh, quận Cao Lãnh, trong lòng sông Cần Lố, thuộc rạch Trà Bồng (Đồng tháp Mười). g/ Ông Đạo Lãnh, còn gọi ông Hai Lãnh, ông còn một tên nữa là Cậu Hai Gò Sặt. Ông tinh thông nho học, võ nghệ cao, có thuật gồng và thông tường các loại bùa thư. h/ Ông Đạo Sĩ, người làng Trà Kiết (An Giang), từ Mặc Cần Dưng đi vô tới chợ Cần Đăng, đi vô nữa là tới Trà Kiết, ông đến Xẻo Môn thọ phái Bửu Sơn Kỳ Hương, về sau ông lập cốc ở Trà Kiết trị bệnh cho bá tánh. i/ Ông Đạo Thắng tên thật Nguyễn Văn Thắng, là người gần gũi với Phật Thầy Tây An. k/ Ông Đạo Chợ, quê ở Chưn Đùn, Cá Hố (gần Vàm Ông Chưởng), ông trị bịnh rất linh nghiệm. l/ Ông Đạo Đọt giữ việc hương khói nơi trại ruộng Thới Sơn của Phật Thầy, có tài trị hết bịnh nhiều người. 9/ Vải quần cẩm tự, NNĐT sđd, trang 195 10/ Tân Châu Xưa, sđd, trang 61. 11/ “Đọc Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung Dương Văn Chung” của Vũ Thất, đăng trên Thất Sơn Châu Đốc ngày 27-5-2009. 12/ Những Lá Thư Đầm Ấm của Quách Tấn và Nguyễn Hiến Lê, do Quách Giao sưu tầm, nhà xuất bản Tổng hợp tp HCM, năm 2010. 13/ Những Lá Thư Đầm Ấm, sđd, trang275. 14/ Những Lá Thư Đầm Ấm, sđd, trang 283. https://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/bm%2022-6-22.htm

Cao Niên Vui Sống - Ngày Hiền Mẫu với Hội Thân Hữu Cao Niên NSW

https://sbs-podcast.streamguys1.com/cao-nien-vui-song/20240508182942-vietnamese-826c277e-9d22-4494-8991-ead8c72e8cec.mp3?awCollectionId=cao-nien-vui-song&awGenre=Society+and+Culture&awEpisodeId=0000018f-5744-de05-a9ff-dfc6ac110003&dur_cat=3&listeningSessionID=0CD_382_165__12af17c146de83240f244c991b444f584918d9b4

https://assets.sbs.com.au/dims4/default/51bc11e/2147483647/strip/true/crop/4000x2250+0+0/resize/1280x720!/quality/90/?url=https%3A%2F%2Fsbs-au-brightspot.s3.ap-southeast-2.amazonaws.com%2Fdf%2F35%2F625c442a4f5a8fea3f9b9f057c5a%2Fba-phan-va-ba-cuc.jpg

Bà Nguyễn Ngọc Phấn và bà Nguyễn Lan Cúc trong bếp tại Hội Thân Hữu Cao Niên NSW

Ngày Hiền Mẫu được tổ chức sớm tại trụ sở của Hội Thân Hữu Cao Niên New South Wales, nhân buổi sinh hoạt vào ngày thứ sáu mỗi đầu tháng. Nhân dịp nầy, bà Nguyễn Thị Phấn và bà Nguyễn Lan Cúc tâm tình về ngày Hiền Mẫu, trong lúc chăm sóc công việc ẩm thực cho các hội viên trong hội.
Trước hết bà Nguyễn Thị Phấn là phu nhân của ông Hội Trưởng Dương Văn Chung, năm nay bà 86 tuổi nhưng vẫm đảm nhận trách vụ nấu nướng cho cả hội, ngày xưa thường được gọi là 'Tổng Khậu'.

Bà nấu đủ các món ăn chay cũng như mặn, rồi các món bánh ngọt hay chè để tráng miệng, trong suốt 18 năm qua liên tục.

Bà có 3 trai và 1 gái, với 5 cháu nội và 2 cháu ngoại, mới đây bà còn được lên chức cố với đứa cháu cố đầu tiên.

SKIP ADVERTISEMENT
Sinh nhật của bà vào cuối tháng 4 nên các con cháu tổ chức luôn để kỷ niệm ngày Mother's Day, vì vậy bà là người được hưởng ngày Hiền Mẫu sớm hơn mọi người, cùng với sinh nhật của mình.

Đối với bà, ngày Hiền Mẫu là dịp để con cháu quây quần kỷ niệm và tỏ lòng hiếu thảo với bậc sinh thành.

Bà luôn tâm niệm lòng biết ơn với quê hương thứ hai, đã dang rộng vòng tay đón người tỵ nạn và khi có tuổi được hưởng mọi trợ giúp từ y tế, thuốc men đến tiền bạc cho các vị cao niên, trong khi tại quê nhà nhiều cụ già còn phải lao động vất vả để mưu sinh hàng ngày.

https://assets.sbs.com.au/27/6d/dc4ba4f24e05a2eb5df5895753d8/20240301-095855-1.jpg

Bà Nguyễn Lan Cúc 74 tuổi là phu nhân của ông Phước, phụ trách thủ quỹ cho hội.

Bà cho biết chỉ phụ giúp công việc cho bà Phấn mà mọi người thường gọi là 'Chị Hai', vì mọi thứ món ăn đều do bà Phấn chu toàn.

Bà có hai người con trai lẫn gái, nhưng chỉ có cháu ngoại vì con trai lớn không lập gia đình.

Về ngày Hiền Mẫu, bà cho biết các con cháu cũng như ông Phước đứng ra tổ chức đầy đủ, mặc dù bà không muốn mọi người trong nhà phải tốn kém.

Về ý kiến cho rằng mỗi ngày trong năm nên là ngày Hiền Mẫu, bà Phấn cũng như bà Cúc đều đồng ý rằng ơn sâu nghĩa nặng của bậc sinh thành, không chỉ gói gọn trong một ngày trong năm mà thôi.

https://www.sbs.com.au/language/vietnamese/vi/podcast-episode/cao-nien-vui-song-ngay-hien-mau-voi-hoi-than-huu-cao-nien-nsw/yn8xtiybb

# Cao Niên Vui Sống - Ngày Hiền Mẫu với Hội Thân Hữu Cao Niên NSW https://sbs-podcast.streamguys1.com/cao-nien-vui-song/20240508182942-vietnamese-826c277e-9d22-4494-8991-ead8c72e8cec.mp3?awCollectionId=cao-nien-vui-song&awGenre=Society+and+Culture&awEpisodeId=0000018f-5744-de05-a9ff-dfc6ac110003&dur_cat=3&listeningSessionID=0CD_382_165__12af17c146de83240f244c991b444f584918d9b4 https://assets.sbs.com.au/dims4/default/51bc11e/2147483647/strip/true/crop/4000x2250+0+0/resize/1280x720!/quality/90/?url=https%3A%2F%2Fsbs-au-brightspot.s3.ap-southeast-2.amazonaws.com%2Fdf%2F35%2F625c442a4f5a8fea3f9b9f057c5a%2Fba-phan-va-ba-cuc.jpg Bà Nguyễn Ngọc Phấn và bà Nguyễn Lan Cúc trong bếp tại Hội Thân Hữu Cao Niên NSW Ngày Hiền Mẫu được tổ chức sớm tại trụ sở của Hội Thân Hữu Cao Niên New South Wales, nhân buổi sinh hoạt vào ngày thứ sáu mỗi đầu tháng. Nhân dịp nầy, bà Nguyễn Thị Phấn và bà Nguyễn Lan Cúc tâm tình về ngày Hiền Mẫu, trong lúc chăm sóc công việc ẩm thực cho các hội viên trong hội. Trước hết bà Nguyễn Thị Phấn là phu nhân của ông Hội Trưởng Dương Văn Chung, năm nay bà 86 tuổi nhưng vẫm đảm nhận trách vụ nấu nướng cho cả hội, ngày xưa thường được gọi là 'Tổng Khậu'. Bà nấu đủ các món ăn chay cũng như mặn, rồi các món bánh ngọt hay chè để tráng miệng, trong suốt 18 năm qua liên tục. Bà có 3 trai và 1 gái, với 5 cháu nội và 2 cháu ngoại, mới đây bà còn được lên chức cố với đứa cháu cố đầu tiên. SKIP ADVERTISEMENT Sinh nhật của bà vào cuối tháng 4 nên các con cháu tổ chức luôn để kỷ niệm ngày Mother's Day, vì vậy bà là người được hưởng ngày Hiền Mẫu sớm hơn mọi người, cùng với sinh nhật của mình. Đối với bà, ngày Hiền Mẫu là dịp để con cháu quây quần kỷ niệm và tỏ lòng hiếu thảo với bậc sinh thành. Bà luôn tâm niệm lòng biết ơn với quê hương thứ hai, đã dang rộng vòng tay đón người tỵ nạn và khi có tuổi được hưởng mọi trợ giúp từ y tế, thuốc men đến tiền bạc cho các vị cao niên, trong khi tại quê nhà nhiều cụ già còn phải lao động vất vả để mưu sinh hàng ngày. https://assets.sbs.com.au/27/6d/dc4ba4f24e05a2eb5df5895753d8/20240301-095855-1.jpg Bà Nguyễn Lan Cúc 74 tuổi là phu nhân của ông Phước, phụ trách thủ quỹ cho hội. Bà cho biết chỉ phụ giúp công việc cho bà Phấn mà mọi người thường gọi là 'Chị Hai', vì mọi thứ món ăn đều do bà Phấn chu toàn. Bà có hai người con trai lẫn gái, nhưng chỉ có cháu ngoại vì con trai lớn không lập gia đình. Về ngày Hiền Mẫu, bà cho biết các con cháu cũng như ông Phước đứng ra tổ chức đầy đủ, mặc dù bà không muốn mọi người trong nhà phải tốn kém. Về ý kiến cho rằng mỗi ngày trong năm nên là ngày Hiền Mẫu, bà Phấn cũng như bà Cúc đều đồng ý rằng ơn sâu nghĩa nặng của bậc sinh thành, không chỉ gói gọn trong một ngày trong năm mà thôi. https://www.sbs.com.au/language/vietnamese/vi/podcast-episode/cao-nien-vui-song-ngay-hien-mau-voi-hoi-than-huu-cao-nien-nsw/yn8xtiybb
519
24
1
xem trước trực tiếp
nhập ít nhất 10 ký tự
Cảnh báo: You mentioned %MENTIONS%, but they cannot see this message and will not be notified
Đang lưu...
Đã lưu
Trạng thái
With đã chọn deselect posts xem các bài viết đã chọn
All posts under this topic will be đã xóa ?
Đang còn lưu nháp ... Click để sửa đổi lại
Xóa lưu nháp