Huyện An Phú trong Địa bạ triều Nguyễn

1 ... 34567

Vài nét về địa danh ở tỉnh An Giang

Lê Trung Hoa

Khoa Văn học và Ngôn ngữ

"Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ phát triển Khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số VII2.2-2011.06”.

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=4861%3Avai-net-v-a-danh-tnh-an-giang&catid=71%3Angon-ng-hc&Itemid=107&lang=vi

Tóm tắt

An Giang, về diện tích, đứng hàng thứ tư ở đồng bằng sông Cửu Long; nhưng về dân số đứng hàng thứ nhất (với 2.149.200 người, trong đó dân tộc Khmer có 86.592 người, chiếm 3,9% dân số của tỉnh). Địa danh tỉnh này có một số đặc điểm: Về địa danh chỉ địa hình, số tên chỉ dòng chảy nhân tạo (kênh, mương, 1.500 đơn vị) nhiều gần gấp 10 lần dòng chảy tự nhiên (sông, rạch, 159 đơn vị)… Về ngữ nguyên, địa danh hành chính hầu hết là từ Hán Việt: Phú (154 địa danh), Bình (148 địa danh),…Có độ 10 địa danh gốc Khmer. Một số địa danh mang tên những người có công khai phá vùng đất này (Thoại Hà, Vĩnh Tế) và một số tên anh hùng, liệt sĩ hi sinh vì vùng đất thân yêu. Sau cùng, nhiều địa danh vốn là tên cây, tên thú, tên sự vật của tỉnh.

1. An Giang là một tỉnh ở miền Tây đồng bằng sông Cửu Long, diện tích đứng hàng thứ tư (3.536,8 km2), sau ba tỉnh Kiên Giang (6.346,3 km2), Cà Mau (5.331 km2) và Long An (4.493 km2). Nhưng về dân số, An Giang đứng hạng nhất với 2.149.200 người, trong đó dân tộc Khmer có 86.592 người, chiếm 3,9% dân số của tỉnh. Do đó, bên cạnh đa số địa danh thuần Việt và Hán Việt, có một số địa danh gốc Khmer.

2.1. Địa danh chỉ địa hình:

An Giang vừa là tỉnh thượng nguồn của hệ thống sông Cửu Long vừa là một trong những tỉnh thuộc vùng tứ giác Long Xuyên nên số lượng dòng chảy khá lớn. Nhưng số lượng dòng nước tự nhiên (159 đơn vị) không nhiều bằng dòng nước nhân tạo (1.500 đơn vị). Đứng đầu các dòng chảy là kênh (1.115 địa danh: kênh Vĩnh Tế, kênh An Châu, kênh Bình Khánh,…), kế đến là mương (375 địa danh: mương Bình Mỹ, mương Chà Và, mương Đa Phước,…), tiếp theo là rạch (111 địa danh: rạch Phú Hòa, rạch Mỹ Hòa Hưng, rạch Phú Thuận,…)*. Điều này phản ảnh hệ thống kênh rạch chằng chịt là không chỉ là đặc trưng địa lý tự nhiên mà còn là kết quả của quá trình con người nạo vét sông rạch, đào kênh mương để thoát lũ, thau chua rửa phèn , mang lại những hạt lúa vàng xuất khẩu, làm giàu cho đất nước.

Bên cạnh những dòng chảy quen thuộc trên, ở An Giang còn có những dòng chảy hơi hiếm so với những nơi khác.

Ngả Cái là tên hai nhánh sông, hai con rạch, một ở phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, một ở xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; rạch này dài 2.200m, rộng 2m, sâu 0,5m. Ngả Cái là "rạch lớn”.

Chong Rây là ngọn ở xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, dài 2.283m, rộng 10m, sâu 1,5m, đào trước năm 1975. Ngọn Cái là rạch ở các xã Hòa Bình Thanh, Vĩnh Lợi, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Ngọn là "dòng nước nhỏ ở đầu nguồn sông” và Ngọn Cái là dòng nước tương đối lớn.

Rộc là một từ có sử dụng trong tiếng Việt Trung Bộ và Bắc Bộ nhưng với nghĩa là "đất trũng ven các cánh đồng, hoặc giữa hai sườn đồi: ruộng rộc” (3) và ca dao Trung Bộ có câu:

Ra đi mẹ có dặn dò

Ruộng rộc thì cấy, ruộng gò thì gieo.

Nhưng ở An Giang, rộc còn có nghĩa là "ngòi nước nhỏ, hẹp”. Khánh An là rộc ở huyện An Phú, dài 1.200m, rộng 4m. Phú Hữu là rộc cũng ở huyện An Phú, tỉnh An Giang, dài 3.000m, rộng 2m.

Xép vốn là một tính từ, có nghĩa là "nhỏ”, nhưng ở Nam Bộ nói chung và An Giang nói riêng, nó chuyển hóa thành danh từ, chỉ dòng nước nhỏ. Ở huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, có xép Bà Lý, dài 10.500m, rộng 6m, sâu 1,2m, đào trước năm 1975.

Cũng như ở các vùng khác ở Nam Bộ, An Giang có nhiều dòng chảy khởi đầu bằng thành tố Cái. Cái là dòng nước chỉ sông/rạch/kênh.

Cái Tàu Thượng là tên chợ, tên cầu và là tên con kênh làm ranh giới giữa huyện Chợ Mới, An Giang và huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Cái Tàu Thượng tương ứng với từ tổ Khmer Păm Prêk Sampou Lơ (vàm rạch tàu thuỷ ở trên). Như vậy, Tàu ở đây là tàu thuỷ.

Còn Cái Tàu Hạ là tên chợ, tên thị trấn và tên con kênh ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Từ ý nghĩa của Cái Tàu Thượng, ta suy ra Tàu trong Cái Tàu Hạ cũng là tàu thủy.

Cái Tắc là rạch ở huyện Phú Tân, dài 9.100m, rộng 8m. Cái Tắc có dạng gốc Cái Tắt, là "rạch đi tắt từ nơi này đến nơi khác”.

Cái Tây là cầu ở xã Hòa An, huyện Chợ Mới, khánh thành ngày 17-9-2011. Cái Tây là "rạch phía tây”. Có lẽ tên rạch chuyển thành tên cầu.

Cái Vồn là rạch ở xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, dài 2.800m, rộng 4m, sâu 1m, vét năm 1987. Cái Vồn nửa thuần Việt nửa Khmer. Người Khmer gọi Srôk Tà Von "xứ ông Von” (14). Vậy Cái Vồn là "rạch ông Vồn”.

Cái Vừng là sông ở huyện Tân Châu. Cái Vừng là "sông chảy qua vùng có các cây vừng - thứ cây lớn lá, hay mọc theo đất bưng” (5).

Cái có một biến âm là Cả.

Cả Bứa là kênh ở huyện Thoại Sơn. Cả Bứa là biến âm của Cái Bứa, là "kênh chảy qua vùng nhiều cây bứa”.

Cả Bướm là kênh ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Cả Bướm có lẽ là biến âm của Cái Bướm, nghĩa là "kênh có nhiều cây bướm – "loại cây có gai, mọc ven bờ sông rạch, cao khoảng 3-4m, lá giống như lá cây mai, gai mọc ở dưới gốc dài khoảng 3cm nhưng trên thân thì gai ngắn còn khoảng 2cm. Gỗ thường được dùng làm cột nhà” (9).

Cả Tre là rạch ở xã Phú Xuân, huyện Phú Tân. Cả Tre là biến âm của Cái Tre, nghĩa là "rạch cây tre”.

Cả Trôm là cầu ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cả Trôm là biến âm của Cái Trôm, nghĩa là "rạch cây trôm”.

Bên cạnh các dòng chảy vừa nêu trên, An Giang cũng có một số từ chỉ các địa hình sông nước mà các vùng khác ở Nam Bộ cũng có.

Búng là chỗ nước xoáy ở giữa dòng sông, có thể gây nguy hiểm cho ghe thuyền. Ở An Giang có búng Bình Thiên thuộc huyện An Phú. Búng Lớn và Búng Nhỏ là hai ấp ở các xã Nhơn Hội, Khánh Bình, huyện An Phú. Địa danh Búng ở Bình Dương cũng thuộc loại này.

Bưng gốc Khmer bâng, nghĩa là "vùng đầm lầy ngập nước, mọc nhiều cỏ lác”(3) Bưng Bùn là vùng đất nằm giữa hai đầu kênh Vĩnh Tế, có nhiều bùn đất.

Lung là bàu, vũng, chỗ ngập nước giữa đồng hoặc giữa rừng. Lung Ấu là rạch ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Lung Ấu là "cái bàu có nhiều cây ấu”.

Cù lao thoát thai từ một từ Mã Lai pulaw, nghĩa là "cồn, đảo”. Trong tiếng Việt đã có sẵn từ cù lao, chỉ công lao khó nhọc của cha mẹ trong quá trình nuôi con (cửu tự cù lao: chín chữ cù lao). Do đó, thay vì du nhập nguyên dạng từ pulaw của Mã Lai, ông cha ta đã mượn âm từ cù lao để người Việt dễ dùng, dễ nhớ: cù lao Chà Và, cù lao Năng Gù/Năng Cù, cù lao Ông Chưởng,…

Láng là từ địa phương chỉ đầm, đìa. Ở An Giang có Láng Linh. Có người giải thích là "vùng đất thấp nước linh láng” (8 ). Cách giải thích này chưa thuyết phục lắm.

2.2. Về ngữ nguyên:

2.2.1. Địa danh hành chính của tỉnh An Giang cũng đa số là từ Hán Việt như những tỉnh khác của Nam Bộ.

Nhiều nhất là thành tố Phú "giàu có” (154 địa danh: huyện Phú Tân, xã Phú Thành, thị trấn An Phú, huyện Châu Phú,…);

thứ hai là thành tố Bình "không chiến tranh” (148 địa danh: phường Bình Đức, mương Bình Mỹ, thị trấn Long Bình, xã Khánh Bình,…);

kế đến là thành tố Vĩnh "mãi mãi” (127 địa danh: xã Vĩnh Châu, xã Vĩnh Tế, phường Vĩnh Mỹ, xã Phú Vĩnh,…);

tiếp theo là An "yên ổn” (124 địa danh: tỉnh An Giang, huyện An Phú, xã Khánh An, xã Vĩnh An,…);

thứ năm là Long "thịnh vượng, to lớn” (114 địa danh: thành phố Long Xuyên, thị trấn Long Bình, phường Mỹ Long, xã Phú Long,…);

thứ sáu là yếu tố Mỹ "đẹp đẽ” (110 tên đất: phường Mỹ Bình, phường Mỹ Long, thị trấn Phú Mỹ, kênh Định Mỹ,…)*;

Các từ này thể hiện ước vọng sống trong sự giàu có, yên bình, tốt đẹp và hòa thuận trên vùng đất mới.

2.2.2. Địa danh gốc Khmer:

Ở An Giang có độ 10 địa danh gốc Khmer mà chúng ta có thể xác định được nguồn gốc và ý nghĩa:

Cần Đăng là tên kênh, mương, chợ, xã ở huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Cần Đăng gốc Khmer Kon Đal, nghĩa là "ở giữa” (10).

Cần Xây là tên rạch, chợ ở phường Bình Đức, tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang. Cần Xây cũng gọi Cần Thay, gốc Khmer Banlê Ansay (14). Ansay là tên một giống rùa quí, dành cho vua (5).

Đam Pô là gò ở ấp Ninh Hoà, xã An Tức, huyện Tri Tôn, có di chỉ khảo cổ học thuộc văn hoá Óc Eo. Đam Pô gốc Khmer Đam Pồ, thường gọi là lâm vồ (7, 15), nghĩa là "cây bồ đề”.

Mương Thơm là rạch ở xã Mỹ Thạnh, tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang. Mương Thơm vừa gốc thuần Việt mương vừa gốc Khmer Thom, nghĩa là "mương lớn”.

Năng Gù là cù lao ở huyện Châu Thành và là bến phà trên tỉnh lộ 954 Tân Châu-Năng Gù, huyện Tân Châu. Cũng gọi Năng Cù. Năng Gù gốc Khmer Snèn Kô (14) / Xeneng Co (12), nghĩa là "sừng bò” (15).

Ô là một từ gốc Khmer, nghĩa là "suối”. Ô Tà Sóc là suối ở huyện Tri Tôn, chảy từ núi Dài xuống, dài độ 2,5km. Ô Tà Sóc gốc Khmer, nghĩa là "suối ông Sóc”. Ô Thum là suối ở huyện Tri Tôn, chảy từ núi Cô Tô xuống, dài 2,88km và cũng là tên suối ở huyện Tịnh Biên. Ô Thum gốc Khmer, nghĩa là "suối lớn”. Ô Tức Xa là suối ở huyện Tịnh Biên, chảy từ núi Cấm xuống, dài 4km. Ô Tức Xa gốc Khmer: Ô: suối; Tức: nước; Xa: chưa biết nghĩa (6).

Tà Mos là kênh ở xã Vĩnh Trung, huyện Tân Biên, dài 2.300m, rộng 6-8m, sâu 0,5m, đào năm 1990. Tà Nung là núi ở xã Xuân Tô, huyện Tân Biên, cao 59m, chu vi 1.450m. Tà Xây là rạch ở các xã Long Mỹ, Long Giang, huyện Chợ Mới, dài 560m, rộng 3m, sâu 0,5m, đào năm 1980. Tà là "ông”, còn Mos, Nung, Xây có lẽ là tên người Khmer.

Tầm Vu là rạch ở phường Bình Đức, tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang. Tầm Vu: Có hai cách giải thích: 1.Tầm Vu gốc Khmer Lam Pu, là "cây bần” (13). 2. Tầm Vu gốc Khmer Sampu, là "chiếc thuyền” (15). Về ngữ âm, thuyết sau có lý hơn.

Xà Mách là kênh và cầu bắc qua kênh Xà Mách, ở huyện Chợ Mới. Xà Mách gốc Khmer X’math, nghĩa là "cây tràm” (10).

2.3. Một số địa danh là những tấm bia lịch sử ghi lại công lao của những anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ miền đất thân yêu này:

Đào Hữu Cảnh là tên kênh và tên xã ở huyện Châu Phú.

Đào Hữu Cảnh(1930-1970), tên thật là Đào Văn Sạ, chỉ huy lực lượng vũ trang huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, đánh thắng lớn 3 trận trong thập niên 1960, hi sinh cùng con trai trong thập niên 1970.

Huỳnh Thị Hưởng là kênh ở xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới.

Huỳnh Thị Hưởng (1945-1965), quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, là liệt sĩ Cách mạng bất khuất.

Huỳnh Văn Triển là kênh ở xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới. Mương Tịnh là tên kênh và cầu ở xã Long Kiển, huyện Chợ Mới.

Tịnh là bí danh của liệt sĩ Huỳnh Văn Triển (1921-1964), hi sinh khi hoạt động bí mật ở địa phương,

Lê Chánh là tên xã của huyện Tân Châu. Lê Trì là tên xã của huyện Tri Tôn. Có lẽ đây là hai nhân vật của địa phương mà chúng tôi chưa rõ lý lịch.

2.4. Một số địa danh cho chúng ta biết các chức danh đã sử dụng dưới chế độ cũ.

Ông Chưởng là tên rạch, cầu và tên cù lao ở huyện Chợ Mới. Ông Chưởng là Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700). Chưởng cơ là "binh chế thời Lê Hiển Tông 1748 đổi phủ vệ thành cơ đội, 300 người gọi 1 đội, 400 gọi 1 cơ” (2). Vậy chưởng cơ là người chỉ huy 400 quân.

Phán Diện là rạch ở phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc. Phán Diện có lẽ là cách gọi tắt ông thông phán tên Diện. Thông phán là "chức quan thuộc châu đời Trần đặt năm Giáp Thân (1344) (2) hoặc «chức tá nhị trong một tỉnh, đầu phòng việc, bên bố hay là bên án» (5).

Phó Quế là khóm của phường Mỹ Long, tp. Long Xuyên. Phó Quế là người có chức danh phó (xã, thôn) tên Quế dưới thời Pháp thuộc.

Xã Kịnh là kênh ở thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, dài 805m, rộng 4m, sâu 1m, đào năm 1989. Xã Kịnh là "xã trưởng tên Kịnh”.

2.5. Một số địa danh đã được xác định nguồn gốc, ý nghĩa khá chính xác và không kém thú vị.

a) Một số yếu tố đứng sau là tên người:

Ở An Giang có 13 địa danh mang tên Thoại Ngọc Hầu (1761-1829) và vợ ông, bà Châu Thị Tế: kinh Thoại Hà, huyện Thoại Sơn, kinh Vĩnh Tế nối liền các huyện Châu Đốc, Tịnh Biên , Tri Tôn và tỉnh Kiên Giang.

Ba Đon là mương ở xã Hội An, huyện Chợ Mới. Ba Đon là "ông Ngô Văn Đon, sinh năm 1919, nhà ở tại mương” (11).

Bà Cọc là mương ở xã Hội An, huyện Chợ Mới. Bà Cọc là vợ của nhà tư sản Huỳnh Văn Cọc, một người đàn bà khôn lanh, tài giỏi, nổi tiếng trong vùng (11).

b) Một số thành tố đứng sau là tên cây:

Cà Na là ấp của xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn, dài 1.600m, rộng 2m. Cà Na cũng gọi là trám, loại cây rừng to, trái dài bằng ngón tay cái, hai đầu nhọn, da xanh, cơm chua.

Chóc là núi ở xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn. Chóc là "loại rau hay mọc dưới đất bưng” (5).

Xẻo Mác là rạch ở xã Nhơn Hội, huyện An Phú. Mác là một "loại rau cỏ sống dưới nước, cọng dài, lá hình trái tim, ăn được” (5).

Rau Đắng là rạch ở xã Hội An, huyện Chợ Mới. Rau Đắng là "loại cỏ bò nơi ẩm ướt, cộng mập, lá dày đầu tròn hoa trắng, vị đắng, được ăn sống, luộc, hoặc nấu canh, có chất hưng phấn trấn kinh và lợi tiểu tiện” (7).

Rau Tần là ấp của xã An Hảo, huyện Tịnh Biên. Rau Tần là "loại rau thơm, dày lá” (5).

c) Một số yếu tố đứng sau là tên các con vật:

Bồng Bồng là mương ở huyện Châu Phú. Bồng Bồng là chim cùng loại với vịt trời nhưng lớn hơn (10).

Cá Bông là bàu ở xã Phước Hưng, huyện An Phú. Cá Bông là "thứ cá tròn dài, mình có hoa mà lớn” (5).

d) Một số thành tố đứng sau là các sự vật:

Cà Ròn là kênh ở xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, dài 1.268m rộng 5m, sâu 1,3m, đào năm 2000. Cà ròn là "bao nhỏ dài, đương (đan) bằng lá buôn, hoặc may bằng vải to” (5).

Cây Đao là tảng đá ở huyện Thoại Sơn. Cây Đao vì trên núi có một tảng đá nứt vỡ, có hình dáng một cây đao (1).

Chìm là kênh ở các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới. Chìm vì kênh ở vùng thấp, đến mùa nước nổi, không còn thấy kênh (10).

Nhà Neo là địa điểm ở gần núi Sam, thuộc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Nhà Neo là những chiếc ghe được neo lại để chuẩn bị chở đá lấy từ núi đi các nơi (8 ).

3. Qua các phần trình bày trên, ta thấy địa danh An Giang có đủ đặc trưng của địa danh vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long: có nhiều tên sông nước, nhiều từ Hán Việt trong địa danh hành chính, chất liệu dùng để tạo địa danh là những con người, cây cỏ, cầm thú, đồ vật có mặt trên địa bàn. Do đó, khi biết rõ nguồn gốc và ý nghĩa của các địa danh, chúng ta càng yêu thích quê hương và nỗ lực để gìn giữ vùng đất mà ông cha ta đã đổ nhiều mồ hôi và xương máu để bảo vệ nó.

*Theo số liệu thống kê của Nguyễn Thị Thái Trân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Đặng Hoàng Thám, Núi Cây Đao, kỳ bí trên Hoa Thê Sơn, Kiến thức ngày nay, số 695, ngày 1-12-1909, 79, 80, 85.

2.Đỗ Văn Ninh, Từ điển chức quan Việt Nam, HN, Nxb Thanh niên, 2002.

3.Hoàng Phê (cb), Từ điển tiếng Việt, Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng-Trung tâm Từ điển học, 2000.

4.Huỳnh Công Tín, Từ điển từ ngữ Nam Bộ, HN, Nxb KHXH, 2007.

5.Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị, SG, 1895-1896.

6.Lê Trung Hoa, Từ điển địa danh Nam Bộ, bản thảo.

7.Lê Văn Đức, Việt Nam từ điển, SG, Khai trí, 1970.

8.Nguyễn Hữu Hiếu, Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ qua chuyện tích và giả thuyết, HN, Nxb KHXH, 2004.

9.Nguyễn Tấn Anh, Những đặc điểm chính của địa danh ở Vĩnh Long, Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, Trường ĐHKHXH-NV, tp.HCM, 2008.

10.Nguyễn Thị Thái Trân, Đặc điểm chính của địa danh tỉnh An Giang, Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường ĐHKHXH-NV, tp. HCM, 2013.

11.Ông Kim Khải, Tìm hiểu di tích, địa danh xã Hội An, Quỹ tiếp sức tài năng An Giang xb, 2010.

12.Sơn Nam, Đồng bằng sông Cửu Long hay Văn minh miệt vườn , SG, 1979.

13.Thạch Phương-Lưu Quang Tuyến (cb), Địa chí Long An, Nxb Long An, Nxb KHXH, 1989.

14.Trương Vĩnh Ký, xem Lê Hương, Người Việt gốc Miên, tr. 253 – 264. Thái Văn Chải dịch các địa danh gốc Khmer trong sách này.

15.Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng Việt miền Nam, HN, Nxb Văn hoá, 1993.

Nguồn: Ngôn ngữ miền sông nước, Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia, 2014, tr. 56-66.

## Vài nét về địa danh ở tỉnh An Giang #### Lê Trung Hoa Khoa Văn học và Ngôn ngữ #### "Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ phát triển Khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số VII2.2-2011.06”. http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=4861%3Avai-net-v-a-danh-tnh-an-giang&catid=71%3Angon-ng-hc&Itemid=107&lang=vi **Tóm tắt** An Giang, về diện tích, đứng hàng thứ tư ở đồng bằng sông Cửu Long; nhưng về dân số đứng hàng thứ nhất (với 2.149.200 người, trong đó dân tộc Khmer có 86.592 người, chiếm 3,9% dân số của tỉnh). Địa danh tỉnh này có một số đặc điểm: Về địa danh chỉ địa hình, số tên chỉ dòng chảy nhân tạo (kênh, mương, 1.500 đơn vị) nhiều gần gấp 10 lần dòng chảy tự nhiên (sông, rạch, 159 đơn vị)… Về ngữ nguyên, địa danh hành chính hầu hết là từ Hán Việt: Phú (154 địa danh), Bình (148 địa danh),…Có độ 10 địa danh gốc Khmer. Một số địa danh mang tên những người có công khai phá vùng đất này (Thoại Hà, Vĩnh Tế) và một số tên anh hùng, liệt sĩ hi sinh vì vùng đất thân yêu. Sau cùng, nhiều địa danh vốn là tên cây, tên thú, tên sự vật của tỉnh. **1.** An Giang là một tỉnh ở miền Tây đồng bằng sông Cửu Long, diện tích đứng hàng thứ tư (3.536,8 km2), sau ba tỉnh Kiên Giang (6.346,3 km2), Cà Mau (5.331 km2) và Long An (4.493 km2). Nhưng về dân số, An Giang đứng hạng nhất với 2.149.200 người, trong đó dân tộc Khmer có 86.592 người, chiếm 3,9% dân số của tỉnh. Do đó, bên cạnh đa số địa danh thuần Việt và Hán Việt, có một số địa danh gốc Khmer. **2.1. Địa danh chỉ địa hình:** An Giang vừa là tỉnh thượng nguồn của hệ thống sông Cửu Long vừa là một trong những tỉnh thuộc vùng tứ giác Long Xuyên nên số lượng dòng chảy khá lớn. Nhưng số lượng dòng nước tự nhiên (159 đơn vị) không nhiều bằng dòng nước nhân tạo (1.500 đơn vị). Đứng đầu các dòng chảy là kênh (1.115 địa danh: kênh Vĩnh Tế, kênh An Châu, kênh Bình Khánh,…), kế đến là mương (375 địa danh: mương Bình Mỹ, mương Chà Và, mương Đa Phước,…), tiếp theo là rạch (111 địa danh: rạch Phú Hòa, rạch Mỹ Hòa Hưng, rạch Phú Thuận,…)*. Điều này phản ảnh hệ thống kênh rạch chằng chịt là không chỉ là đặc trưng địa lý tự nhiên mà còn là kết quả của quá trình con người nạo vét sông rạch, đào kênh mương để thoát lũ, thau chua rửa phèn , mang lại những hạt lúa vàng xuất khẩu, làm giàu cho đất nước. Bên cạnh những dòng chảy quen thuộc trên, ở An Giang còn có những dòng chảy hơi hiếm so với những nơi khác. Ngả Cái là tên hai nhánh sông, hai con rạch, một ở phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, một ở xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; rạch này dài 2.200m, rộng 2m, sâu 0,5m. Ngả Cái là "rạch lớn”. Chong Rây là ngọn ở xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, dài 2.283m, rộng 10m, sâu 1,5m, đào trước năm 1975. Ngọn Cái là rạch ở các xã Hòa Bình Thanh, Vĩnh Lợi, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Ngọn là "dòng nước nhỏ ở đầu nguồn sông” và Ngọn Cái là dòng nước tương đối lớn. Rộc là một từ có sử dụng trong tiếng Việt Trung Bộ và Bắc Bộ nhưng với nghĩa là "đất trũng ven các cánh đồng, hoặc giữa hai sườn đồi: ruộng rộc” (3) và ca dao Trung Bộ có câu: Ra đi mẹ có dặn dò Ruộng rộc thì cấy, ruộng gò thì gieo. Nhưng ở An Giang, rộc còn có nghĩa là "ngòi nước nhỏ, hẹp”. Khánh An là rộc ở huyện An Phú, dài 1.200m, rộng 4m. Phú Hữu là rộc cũng ở huyện An Phú, tỉnh An Giang, dài 3.000m, rộng 2m. Xép vốn là một tính từ, có nghĩa là "nhỏ”, nhưng ở Nam Bộ nói chung và An Giang nói riêng, nó chuyển hóa thành danh từ, chỉ dòng nước nhỏ. Ở huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, có xép Bà Lý, dài 10.500m, rộng 6m, sâu 1,2m, đào trước năm 1975. Cũng như ở các vùng khác ở Nam Bộ, An Giang có nhiều dòng chảy khởi đầu bằng thành tố Cái. Cái là dòng nước chỉ sông/rạch/kênh. Cái Tàu Thượng là tên chợ, tên cầu và là tên con kênh làm ranh giới giữa huyện Chợ Mới, An Giang và huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Cái Tàu Thượng tương ứng với từ tổ Khmer Păm Prêk Sampou Lơ (vàm rạch tàu thuỷ ở trên). Như vậy, Tàu ở đây là tàu thuỷ. Còn Cái Tàu Hạ là tên chợ, tên thị trấn và tên con kênh ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Từ ý nghĩa của Cái Tàu Thượng, ta suy ra Tàu trong Cái Tàu Hạ cũng là tàu thủy. Cái Tắc là rạch ở huyện Phú Tân, dài 9.100m, rộng 8m. Cái Tắc có dạng gốc Cái Tắt, là "rạch đi tắt từ nơi này đến nơi khác”. Cái Tây là cầu ở xã Hòa An, huyện Chợ Mới, khánh thành ngày 17-9-2011. Cái Tây là "rạch phía tây”. Có lẽ tên rạch chuyển thành tên cầu. Cái Vồn là rạch ở xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, dài 2.800m, rộng 4m, sâu 1m, vét năm 1987. Cái Vồn nửa thuần Việt nửa Khmer. Người Khmer gọi Srôk Tà Von "xứ ông Von” (14). Vậy Cái Vồn là "rạch ông Vồn”. Cái Vừng là sông ở huyện Tân Châu. Cái Vừng là "sông chảy qua vùng có các cây vừng - thứ cây lớn lá, hay mọc theo đất bưng” (5). Cái có một biến âm là Cả. Cả Bứa là kênh ở huyện Thoại Sơn. Cả Bứa là biến âm của Cái Bứa, là "kênh chảy qua vùng nhiều cây bứa”. Cả Bướm là kênh ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Cả Bướm có lẽ là biến âm của Cái Bướm, nghĩa là "kênh có nhiều cây bướm – "loại cây có gai, mọc ven bờ sông rạch, cao khoảng 3-4m, lá giống như lá cây mai, gai mọc ở dưới gốc dài khoảng 3cm nhưng trên thân thì gai ngắn còn khoảng 2cm. Gỗ thường được dùng làm cột nhà” (9). Cả Tre là rạch ở xã Phú Xuân, huyện Phú Tân. Cả Tre là biến âm của Cái Tre, nghĩa là "rạch cây tre”. Cả Trôm là cầu ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cả Trôm là biến âm của Cái Trôm, nghĩa là "rạch cây trôm”. Bên cạnh các dòng chảy vừa nêu trên, An Giang cũng có một số từ chỉ các địa hình sông nước mà các vùng khác ở Nam Bộ cũng có. Búng là chỗ nước xoáy ở giữa dòng sông, có thể gây nguy hiểm cho ghe thuyền. Ở An Giang có búng Bình Thiên thuộc huyện An Phú. Búng Lớn và Búng Nhỏ là hai ấp ở các xã Nhơn Hội, Khánh Bình, huyện An Phú. Địa danh Búng ở Bình Dương cũng thuộc loại này. Bưng gốc Khmer bâng, nghĩa là "vùng đầm lầy ngập nước, mọc nhiều cỏ lác”(3) Bưng Bùn là vùng đất nằm giữa hai đầu kênh Vĩnh Tế, có nhiều bùn đất. Lung là bàu, vũng, chỗ ngập nước giữa đồng hoặc giữa rừng. Lung Ấu là rạch ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Lung Ấu là "cái bàu có nhiều cây ấu”. Cù lao thoát thai từ một từ Mã Lai pulaw, nghĩa là "cồn, đảo”. Trong tiếng Việt đã có sẵn từ cù lao, chỉ công lao khó nhọc của cha mẹ trong quá trình nuôi con (cửu tự cù lao: chín chữ cù lao). Do đó, thay vì du nhập nguyên dạng từ pulaw của Mã Lai, ông cha ta đã mượn âm từ cù lao để người Việt dễ dùng, dễ nhớ: cù lao Chà Và, cù lao Năng Gù/Năng Cù, cù lao Ông Chưởng,… Láng là từ địa phương chỉ đầm, đìa. Ở An Giang có Láng Linh. Có người giải thích là "vùng đất thấp nước linh láng” (8 ). Cách giải thích này chưa thuyết phục lắm. **2.2. Về ngữ nguyên:** **2.2.1.** Địa danh hành chính của tỉnh An Giang cũng đa số là từ Hán Việt như những tỉnh khác của Nam Bộ. Nhiều nhất là thành tố Phú "giàu có” (154 địa danh: huyện Phú Tân, xã Phú Thành, thị trấn An Phú, huyện Châu Phú,…); thứ hai là thành tố Bình "không chiến tranh” (148 địa danh: phường Bình Đức, mương Bình Mỹ, thị trấn Long Bình, xã Khánh Bình,…); kế đến là thành tố Vĩnh "mãi mãi” (127 địa danh: xã Vĩnh Châu, xã Vĩnh Tế, phường Vĩnh Mỹ, xã Phú Vĩnh,…); tiếp theo là An "yên ổn” (124 địa danh: tỉnh An Giang, huyện An Phú, xã Khánh An, xã Vĩnh An,…); thứ năm là Long "thịnh vượng, to lớn” (114 địa danh: thành phố Long Xuyên, thị trấn Long Bình, phường Mỹ Long, xã Phú Long,…); thứ sáu là yếu tố Mỹ "đẹp đẽ” (110 tên đất: phường Mỹ Bình, phường Mỹ Long, thị trấn Phú Mỹ, kênh Định Mỹ,…)*; Các từ này thể hiện ước vọng sống trong sự giàu có, yên bình, tốt đẹp và hòa thuận trên vùng đất mới. **2.2.2. Địa danh gốc Khmer:** Ở An Giang có độ 10 địa danh gốc Khmer mà chúng ta có thể xác định được nguồn gốc và ý nghĩa: Cần Đăng là tên kênh, mương, chợ, xã ở huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Cần Đăng gốc Khmer Kon Đal, nghĩa là "ở giữa” (10). Cần Xây là tên rạch, chợ ở phường Bình Đức, tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang. Cần Xây cũng gọi Cần Thay, gốc Khmer Banlê Ansay (14). Ansay là tên một giống rùa quí, dành cho vua (5). Đam Pô là gò ở ấp Ninh Hoà, xã An Tức, huyện Tri Tôn, có di chỉ khảo cổ học thuộc văn hoá Óc Eo. Đam Pô gốc Khmer Đam Pồ, thường gọi là lâm vồ (7, 15), nghĩa là "cây bồ đề”. Mương Thơm là rạch ở xã Mỹ Thạnh, tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang. Mương Thơm vừa gốc thuần Việt mương vừa gốc Khmer Thom, nghĩa là "mương lớn”. Năng Gù là cù lao ở huyện Châu Thành và là bến phà trên tỉnh lộ 954 Tân Châu-Năng Gù, huyện Tân Châu. Cũng gọi Năng Cù. Năng Gù gốc Khmer Snèn Kô (14) / Xeneng Co (12), nghĩa là "sừng bò” (15). Ô là một từ gốc Khmer, nghĩa là "suối”. Ô Tà Sóc là suối ở huyện Tri Tôn, chảy từ núi Dài xuống, dài độ 2,5km. Ô Tà Sóc gốc Khmer, nghĩa là "suối ông Sóc”. Ô Thum là suối ở huyện Tri Tôn, chảy từ núi Cô Tô xuống, dài 2,88km và cũng là tên suối ở huyện Tịnh Biên. Ô Thum gốc Khmer, nghĩa là "suối lớn”. Ô Tức Xa là suối ở huyện Tịnh Biên, chảy từ núi Cấm xuống, dài 4km. Ô Tức Xa gốc Khmer: Ô: suối; Tức: nước; Xa: chưa biết nghĩa (6). Tà Mos là kênh ở xã Vĩnh Trung, huyện Tân Biên, dài 2.300m, rộng 6-8m, sâu 0,5m, đào năm 1990. Tà Nung là núi ở xã Xuân Tô, huyện Tân Biên, cao 59m, chu vi 1.450m. Tà Xây là rạch ở các xã Long Mỹ, Long Giang, huyện Chợ Mới, dài 560m, rộng 3m, sâu 0,5m, đào năm 1980. Tà là "ông”, còn Mos, Nung, Xây có lẽ là tên người Khmer. Tầm Vu là rạch ở phường Bình Đức, tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang. Tầm Vu: Có hai cách giải thích: 1.Tầm Vu gốc Khmer Lam Pu, là "cây bần” (13). 2. Tầm Vu gốc Khmer Sampu, là "chiếc thuyền” (15). Về ngữ âm, thuyết sau có lý hơn. Xà Mách là kênh và cầu bắc qua kênh Xà Mách, ở huyện Chợ Mới. Xà Mách gốc Khmer X’math, nghĩa là "cây tràm” (10). **2.3.** Một số địa danh là những tấm bia lịch sử ghi lại công lao của những anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ miền đất thân yêu này: Đào Hữu Cảnh là tên kênh và tên xã ở huyện Châu Phú. Đào Hữu Cảnh(1930-1970), tên thật là Đào Văn Sạ, chỉ huy lực lượng vũ trang huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, đánh thắng lớn 3 trận trong thập niên 1960, hi sinh cùng con trai trong thập niên 1970. Huỳnh Thị Hưởng là kênh ở xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới. Huỳnh Thị Hưởng (1945-1965), quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, là liệt sĩ Cách mạng bất khuất. Huỳnh Văn Triển là kênh ở xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới. Mương Tịnh là tên kênh và cầu ở xã Long Kiển, huyện Chợ Mới. Tịnh là bí danh của liệt sĩ Huỳnh Văn Triển (1921-1964), hi sinh khi hoạt động bí mật ở địa phương, Lê Chánh là tên xã của huyện Tân Châu. Lê Trì là tên xã của huyện Tri Tôn. Có lẽ đây là hai nhân vật của địa phương mà chúng tôi chưa rõ lý lịch. **2.4.** Một số địa danh cho chúng ta biết các chức danh đã sử dụng dưới chế độ cũ. Ông Chưởng là tên rạch, cầu và tên cù lao ở huyện Chợ Mới. Ông Chưởng là Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700). Chưởng cơ là "binh chế thời Lê Hiển Tông 1748 đổi phủ vệ thành cơ đội, 300 người gọi 1 đội, 400 gọi 1 cơ” (2). Vậy chưởng cơ là người chỉ huy 400 quân. Phán Diện là rạch ở phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc. Phán Diện có lẽ là cách gọi tắt ông thông phán tên Diện. Thông phán là "chức quan thuộc châu đời Trần đặt năm Giáp Thân (1344) (2) hoặc «chức tá nhị trong một tỉnh, đầu phòng việc, bên bố hay là bên án» (5). Phó Quế là khóm của phường Mỹ Long, tp. Long Xuyên. Phó Quế là người có chức danh phó (xã, thôn) tên Quế dưới thời Pháp thuộc. Xã Kịnh là kênh ở thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, dài 805m, rộng 4m, sâu 1m, đào năm 1989. Xã Kịnh là "xã trưởng tên Kịnh”. **2.5.** Một số địa danh đã được xác định nguồn gốc, ý nghĩa khá chính xác và không kém thú vị. a) Một số yếu tố đứng sau là tên người: Ở An Giang có 13 địa danh mang tên Thoại Ngọc Hầu (1761-1829) và vợ ông, bà Châu Thị Tế: kinh Thoại Hà, huyện Thoại Sơn, kinh Vĩnh Tế nối liền các huyện Châu Đốc, Tịnh Biên , Tri Tôn và tỉnh Kiên Giang. Ba Đon là mương ở xã Hội An, huyện Chợ Mới. Ba Đon là "ông Ngô Văn Đon, sinh năm 1919, nhà ở tại mương” (11). Bà Cọc là mương ở xã Hội An, huyện Chợ Mới. Bà Cọc là vợ của nhà tư sản Huỳnh Văn Cọc, một người đàn bà khôn lanh, tài giỏi, nổi tiếng trong vùng (11). b) Một số thành tố đứng sau là tên cây: Cà Na là ấp của xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn, dài 1.600m, rộng 2m. Cà Na cũng gọi là trám, loại cây rừng to, trái dài bằng ngón tay cái, hai đầu nhọn, da xanh, cơm chua. Chóc là núi ở xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn. Chóc là "loại rau hay mọc dưới đất bưng” (5). Xẻo Mác là rạch ở xã Nhơn Hội, huyện An Phú. Mác là một "loại rau cỏ sống dưới nước, cọng dài, lá hình trái tim, ăn được” (5). Rau Đắng là rạch ở xã Hội An, huyện Chợ Mới. Rau Đắng là "loại cỏ bò nơi ẩm ướt, cộng mập, lá dày đầu tròn hoa trắng, vị đắng, được ăn sống, luộc, hoặc nấu canh, có chất hưng phấn trấn kinh và lợi tiểu tiện” (7). Rau Tần là ấp của xã An Hảo, huyện Tịnh Biên. Rau Tần là "loại rau thơm, dày lá” (5). c) Một số yếu tố đứng sau là tên các con vật: Bồng Bồng là mương ở huyện Châu Phú. Bồng Bồng là chim cùng loại với vịt trời nhưng lớn hơn (10). Cá Bông là bàu ở xã Phước Hưng, huyện An Phú. Cá Bông là "thứ cá tròn dài, mình có hoa mà lớn” (5). d) Một số thành tố đứng sau là các sự vật: Cà Ròn là kênh ở xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, dài 1.268m rộng 5m, sâu 1,3m, đào năm 2000. Cà ròn là "bao nhỏ dài, đương (đan) bằng lá buôn, hoặc may bằng vải to” (5). Cây Đao là tảng đá ở huyện Thoại Sơn. Cây Đao vì trên núi có một tảng đá nứt vỡ, có hình dáng một cây đao (1). Chìm là kênh ở các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới. Chìm vì kênh ở vùng thấp, đến mùa nước nổi, không còn thấy kênh (10). Nhà Neo là địa điểm ở gần núi Sam, thuộc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Nhà Neo là những chiếc ghe được neo lại để chuẩn bị chở đá lấy từ núi đi các nơi (8 ). **3.** Qua các phần trình bày trên, ta thấy địa danh An Giang có đủ đặc trưng của địa danh vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long: có nhiều tên sông nước, nhiều từ Hán Việt trong địa danh hành chính, chất liệu dùng để tạo địa danh là những con người, cây cỏ, cầm thú, đồ vật có mặt trên địa bàn. Do đó, khi biết rõ nguồn gốc và ý nghĩa của các địa danh, chúng ta càng yêu thích quê hương và nỗ lực để gìn giữ vùng đất mà ông cha ta đã đổ nhiều mồ hôi và xương máu để bảo vệ nó. *Theo số liệu thống kê của Nguyễn Thị Thái Trân. **TÀI LIỆU THAM KHẢO** 1.Đặng Hoàng Thám, Núi Cây Đao, kỳ bí trên Hoa Thê Sơn, Kiến thức ngày nay, số 695, ngày 1-12-1909, 79, 80, 85. 2.Đỗ Văn Ninh, Từ điển chức quan Việt Nam, HN, Nxb Thanh niên, 2002. 3.Hoàng Phê (cb), Từ điển tiếng Việt, Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng-Trung tâm Từ điển học, 2000. 4.Huỳnh Công Tín, Từ điển từ ngữ Nam Bộ, HN, Nxb KHXH, 2007. 5.Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị, SG, 1895-1896. 6.Lê Trung Hoa, Từ điển địa danh Nam Bộ, bản thảo. 7.Lê Văn Đức, Việt Nam từ điển, SG, Khai trí, 1970. 8.Nguyễn Hữu Hiếu, Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ qua chuyện tích và giả thuyết, HN, Nxb KHXH, 2004. 9.Nguyễn Tấn Anh, Những đặc điểm chính của địa danh ở Vĩnh Long, Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, Trường ĐHKHXH-NV, tp.HCM, 2008. 10.Nguyễn Thị Thái Trân, Đặc điểm chính của địa danh tỉnh An Giang, Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường ĐHKHXH-NV, tp. HCM, 2013. 11.Ông Kim Khải, Tìm hiểu di tích, địa danh xã Hội An, Quỹ tiếp sức tài năng An Giang xb, 2010. 12.Sơn Nam, Đồng bằng sông Cửu Long hay Văn minh miệt vườn , SG, 1979. 13.Thạch Phương-Lưu Quang Tuyến (cb), Địa chí Long An, Nxb Long An, Nxb KHXH, 1989. 14.Trương Vĩnh Ký, xem Lê Hương, Người Việt gốc Miên, tr. 253 – 264. Thái Văn Chải dịch các địa danh gốc Khmer trong sách này. 15.Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng Việt miền Nam, HN, Nxb Văn hoá, 1993. Nguồn: Ngôn ngữ miền sông nước, Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia, 2014, tr. 56-66.
edited Jun 9 '15 lúc 10:53 pm
 
0
trả lời

BẢN ĐỒ CÁC TỈNH NAM KỲ NĂM 1910

Annuaire général de l’Indo-Chine française năm 1910, 1912 và 1914

Link : http://tve-4u.org/threads/ban-do-cac-tinh-nam-ky-nam-1910.19846/

BẢN ĐỒ CÁC TỈNH NAM KỲ NĂM 1910 Annuaire général de l’Indo-Chine française
BẢN ĐỒ CÁC TỈNH NAM KỲ NĂM 1910

BẢN ĐỒ CÁC TỈNH NAM KỲ NĂM 1910 Annuaire général de l’Indo-Chine française

Khu vực huyện An Phú ngày nay trên bản đồ Nam Kỳ năm 1910. Có thể thấy 2 địa danh:

  • Bắc Nam (nay thuộc Campuchia - phần đất đối diện ấp Phú Thành, xã Phú Hữu)
  • KP. Kassang (Kampong Krasang - tức Dung Thăng, Cần Thăng - nay là xã Vĩnh Hội Đông).

BẢN ĐỒ CÁC TỈNH NAM KỲ NĂM 1910 Annuaire général de l’Indo-Chine française
Khu vực huyện An Phú ngày nay trên bản đồ tỉnh Châu Đốc 1910. Một số địa danh:

  • Benghi: tức Bình Di, nay là xã Khánh Bình
  • Bắc Nam
  • Khánh An
  • Ka Coi: nay là khu vực chợ Đồng Cô Ki xã Quốc Thái
  • Bac Day: tức Bắc Đai ở xã Nhơn Hội
  • KP. Kassang: nay là xã Vĩnh Hội Đông
  • Đa Phước
## BẢN ĐỒ CÁC TỈNH NAM KỲ NĂM 1910 ### Annuaire général de l’Indo-Chine française năm 1910, 1912 và 1914 Link : http://tve-4u.org/threads/ban-do-cac-tinh-nam-ky-nam-1910.19846/ ![BẢN ĐỒ CÁC TỈNH NAM KỲ NĂM 1910 Annuaire général de l’Indo-Chine française](http://i.imgur.com/EUI4uYF.png) BẢN ĐỒ CÁC TỈNH NAM KỲ NĂM 1910 ![BẢN ĐỒ CÁC TỈNH NAM KỲ NĂM 1910 Annuaire général de l’Indo-Chine française](http://i.imgur.com/fq7ERWj.png) Khu vực huyện An Phú ngày nay trên bản đồ Nam Kỳ năm 1910. Có thể thấy 2 địa danh: - Bắc Nam (nay thuộc Campuchia - phần đất đối diện ấp Phú Thành, xã Phú Hữu) - KP. Kassang (Kampong Krasang - tức Dung Thăng, Cần Thăng - nay là xã Vĩnh Hội Đông). ![BẢN ĐỒ CÁC TỈNH NAM KỲ NĂM 1910 Annuaire général de l’Indo-Chine française](http://i.imgur.com/lQ8LXq4.png) Khu vực huyện An Phú ngày nay trên bản đồ tỉnh Châu Đốc 1910. Một số địa danh: - Benghi: tức Bình Di, nay là xã Khánh Bình - Bắc Nam - Khánh An - Ka Coi: nay là khu vực chợ Đồng Cô Ki xã Quốc Thái - Bac Day: tức Bắc Đai ở xã Nhơn Hội - KP. Kassang: nay là xã Vĩnh Hội Đông - Đa Phước
edited Mar 7 '16 lúc 9:02 pm
 
0
trả lời

Thời sự cẩm nang, 1930

Tổng lược các vấn đề liên quan đến kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp, hành chính.. của Annam có kèm theo các quảng cáo về thuốc và tiểu thuyết "Số bậc cấp Đức"

http://sach.nlv.gov.vn/sach/cgi-bin/sach?a=d&d=kEjhI1930.1.631&e=-------vi-20--1--img-txIN-------#


Tỉnh Châu Đốc

Trang 437

Tỉnh Châu Đốc Thời sự cẩm nang, 1930 <br />

Province de Châudoc

Cách Sài Gòn 220 km.

  • Dân số: 215.479 người
    • Người Âu (Pháp): 115
    • Người An Nam (Kinh): 163.849
    • Người Cambodgiens (Khmer): 38.772
    • Người Trung Hoa: 2.542
    • Người Minh Hương: 2.189
    • Người Ấn Độ: 11
    • Người Mã Lai (Chăm): 7.988

Sự phân biệt người Trung Hoa và người Minh Hương có thể là: người Minh Hương là người Hoa đã sống ở Châu Đốc từ thời lập làng, lập ấp cùng với người Kinh. Họ có thể là con cháu của người Hoa thời kì tị nạn Mãn Thanh, định cư ở Châu Đốc trước khi người Pháp đô hộ Việt Nam. Còn người Trung Hoa là những người từ nước Trung Quốc, sau khoảng năm 1900 mới đến Châu Đốc sinh sống?

Tổng An Phú và tổng Châu Phú

Trang 444

 Tổng An Phú và tổng Châu Phú Thời sự cẩm nang, 1930

Tổng An Phú

Các làng:

  • Đồng Cô Ki
  • Tân Hội
  • Khánh An
  • Khánh Bình
  • Khánh Hội
  • Phú Hữu
  • Phum Soài
  • Vĩnh Lộc
  • Phước Hưng
  • Vĩnh Lợi
  • Phú Lợi

Quan chức

  • Trần Văn Ngọc: tổng trưởng
  • Ngô Xương Thạnh: ban biện
  • Bùi Văn Vân: Conseiller (ủy viên, cố vấn) của tỉnh

Tổng Châu Phú

Các làng:

  • Châu Phú
  • Đa Phước
  • Hà Bao
  • Mỹ Đức
  • Châu Giang
  • Vĩnh Phong
  • Vĩnh Hội Đông
  • Vĩnh Tế
  • Vĩnh Trường
  • Vĩnh Hậu

Quan chức

  • Vương Quang Trực: tổng trưởng
  • Lê Văn Liễu: ban biện phó tổng
  • Lê Chí Kế: Conseiller (ủy viên, cố vấn) của tỉnh
## Thời sự cẩm nang, 1930 Tổng lược c&aacute;c vấn đề li&ecirc;n quan đến kinh tế, ch&iacute;nh trị, x&atilde; hội, luật ph&aacute;p, h&agrave;nh ch&iacute;nh.. của Annam c&oacute; k&egrave;m theo c&aacute;c quảng c&aacute;o về thuốc v&agrave; tiểu thuyết &quot;Số bậc cấp Đức&quot; [http://sach.nlv.gov.vn/sach/cgi-bin/sach?a=d&amp;d=kEjhI1930.1.631&amp;e=-------vi-20--1--img-txIN-------#](http://sach.nlv.gov.vn/sach/cgi-bin/sach?a=d&amp;d=kEjhI1930.1.631&amp;e=-------vi-20--1--img-txIN-------#) --- ### Tỉnh Ch&acirc;u Đốc Trang 437 ![Tỉnh Ch&acirc;u Đốc Thời sự cẩm nang, 1930 ](http://i.imgur.com/vzJOGmR.png) #### Province de Ch&acirc;udoc C&aacute;ch S&agrave;i G&ograve;n 220 km. - D&acirc;n số: 215.479 người - Người &Acirc;u (Ph&aacute;p): 115 - Người An Nam (Kinh): 163.849 - Người Cambodgiens (Khmer): 38.772 - Người Trung Hoa: 2.542 - Người Minh Hương: 2.189 - Người Ấn Độ: 11 - Người M&atilde; Lai (Chăm): 7.988 &gt; Sự ph&acirc;n biệt người Trung Hoa v&agrave; người Minh Hương c&oacute; thể l&agrave;: người Minh Hương l&agrave; người Hoa đ&atilde; sống ở Ch&acirc;u Đốc từ thời lập l&agrave;ng, lập ấp c&ugrave;ng với người Kinh. Họ c&oacute; thể l&agrave; con ch&aacute;u của người Hoa thời k&igrave; tị nạn M&atilde;n Thanh, định cư ở Ch&acirc;u Đốc trước khi người Ph&aacute;p đ&ocirc; hộ Việt Nam. C&ograve;n người Trung Hoa l&agrave; những người từ nước Trung Quốc, sau khoảng năm 1900 mới đến Ch&acirc;u Đốc sinh sống? ### Tổng An Ph&uacute; v&agrave; tổng Ch&acirc;u Ph&uacute; Trang 444 ![ Tổng An Ph&uacute; v&agrave; tổng Ch&acirc;u Ph&uacute; Thời sự cẩm nang, 1930 ](http://i.imgur.com/g9hv6SV.png) #### Tổng An Ph&uacute; C&aacute;c l&agrave;ng: - Đồng C&ocirc; Ki - T&acirc;n Hội - Kh&aacute;nh An - Kh&aacute;nh B&igrave;nh - Kh&aacute;nh Hội - Ph&uacute; Hữu - Phum So&agrave;i - Vĩnh Lộc - Phước Hưng - Vĩnh Lợi - Ph&uacute; Lợi Quan chức - Trần Văn Ngọc: tổng trưởng - Ng&ocirc; Xương Thạnh: ban biện - B&ugrave;i Văn V&acirc;n: Conseiller (ủy vi&ecirc;n, cố vấn) của tỉnh #### Tổng Ch&acirc;u Ph&uacute; C&aacute;c l&agrave;ng: - Ch&acirc;u Ph&uacute; - Đa Phước - H&agrave; Bao - Mỹ Đức - Ch&acirc;u Giang - Vĩnh Phong - Vĩnh Hội Đ&ocirc;ng - Vĩnh Tế - Vĩnh Trường - Vĩnh Hậu Quan chức - Vương Quang Trực: tổng trưởng - L&ecirc; Văn Liễu: ban biện ph&oacute; tổng - L&ecirc; Ch&iacute; Kế: Conseiller (ủy vi&ecirc;n, cố vấn) của tỉnh
edited Feb 9 '17 lúc 5:17 pm
 
0
trả lời

HIỆP ƯỚC

GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA BỔ SUNG HIỆP ƯỚC HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI QUỐC GIA NĂM 1985


1.4. Đối với đoạn biên giới ở khu vực tiếp giáp giữa xã Vĩnh Xương và xã Phú Lộc, huyện Tân Châu và xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An Giang - Việt Nam và xã Kaâm Samnar, huyện Loeuk Dèk và xã Prèk Chrey, huyện Koh Thom, tỉnh Kandal - Campuchia (khu vực giữa sông Mê Kông và Hậu Giang) hai Bên ký kết sẽ dựa vào kết quả khảo sát song phương trên thực địa để điều chỉnh đoạn biên giới nêu trên cho phù hợp với điểm 2, điều I của Hiệp ước Bổ sung này.

1.5. Đối với hai (02) đoạn biên giới ở khu vực tiếp giáp giữa xã Khánh An và xã Khánh Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang - Việt Nam và xã Prèk Chrey, xã Sampeou Pun (rạch Bình Ghi), huyện Koh Thom, tỉnh Kandal - Campuchia, căn cứ vào nội dung được thể hiện trên mảnh bản đồ UTM tỷ lệ 1/50.000 danh pháp TÂNCHÂU 6030-IV kèm theo Hiệp ước hoạch định biên giới 1985, hai Bên ký kết đã thống nhất sửa đổi các đoạn biên giới này như sau:

“… từ điểm A, đường biên giới ngược dòng sông Bassac (Hậu Giang) đến hợp lưu giữa sông Bassac và rạch Bình Ghi, sau đó theo dòng rạch Bình Ghi đến điểm B”.

Hai đoạn biên giới sửa đổi nêu trên được thể hiện bằng đường đỏ trên sơ đồ tỷ lệ 1/50.000 trong Phụ lục số 4 của Hiệp ước Bổ sung này.


Làm tại Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2005, thành hai bản gốc, mỗi bản bằng tiếng Việt, tiếng Khmer và tiếng Pháp; cả ba văn bản đều có giá trị như nhau. Trong trường hợp có sự giải thích khác nhau, văn bản tiếng Pháp được lấy làm căn cứ.

http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hiep-uoc-bo-sung-Hiep-uoc-hoach-dinh-bien-gioi-quoc-gia-nam-1985-125999.aspx

## HIỆP ƯỚC ### GIỮA NƯỚC CỘNG H&Ograve;A X&Atilde; HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM V&Agrave; VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA BỔ SUNG HIỆP ƯỚC HOẠCH ĐỊNH BI&Ecirc;N GIỚI QUỐC GIA NĂM 1985 --- 1.4. Đối với đoạn bi&ecirc;n giới ở khu vực tiếp gi&aacute;p giữa x&atilde; Vĩnh Xương v&agrave; x&atilde; Ph&uacute; Lộc, huyện T&acirc;n Ch&acirc;u v&agrave; x&atilde; Ph&uacute; Hữu, huyện An Ph&uacute;, tỉnh An Giang - Việt Nam v&agrave; x&atilde; Ka&acirc;m Samnar, huyện Loeuk D&egrave;k v&agrave; x&atilde; Pr&egrave;k Chrey, huyện Koh Thom, tỉnh Kandal - Campuchia (khu vực giữa s&ocirc;ng M&ecirc; K&ocirc;ng v&agrave; Hậu Giang) hai B&ecirc;n k&yacute; kết sẽ dựa v&agrave;o kết quả khảo s&aacute;t song phương tr&ecirc;n thực địa để điều chỉnh đoạn bi&ecirc;n giới n&ecirc;u tr&ecirc;n cho ph&ugrave; hợp với điểm 2, điều I của Hiệp ước Bổ sung n&agrave;y. 1.5. Đối với hai (02) đoạn bi&ecirc;n giới ở khu vực tiếp gi&aacute;p giữa x&atilde; Kh&aacute;nh An v&agrave; x&atilde; Kh&aacute;nh B&igrave;nh, huyện An Ph&uacute;, tỉnh An Giang - Việt Nam v&agrave; x&atilde; Pr&egrave;k Chrey, x&atilde; Sampeou Pun (rạch B&igrave;nh Ghi), huyện Koh Thom, tỉnh Kandal - Campuchia, căn cứ v&agrave;o nội dung được thể hiện tr&ecirc;n mảnh bản đồ UTM tỷ lệ 1/50.000 danh ph&aacute;p T&Acirc;NCH&Acirc;U 6030-IV k&egrave;m theo Hiệp ước hoạch định bi&ecirc;n giới 1985, hai B&ecirc;n k&yacute; kết đ&atilde; thống nhất sửa đổi c&aacute;c đoạn bi&ecirc;n giới n&agrave;y như sau: &ldquo;&hellip; từ điểm A, đường bi&ecirc;n giới ngược d&ograve;ng s&ocirc;ng Bassac (Hậu Giang) đến hợp lưu giữa s&ocirc;ng Bassac v&agrave; rạch B&igrave;nh Ghi, sau đ&oacute; theo d&ograve;ng rạch B&igrave;nh Ghi đến điểm B&rdquo;. Hai đoạn bi&ecirc;n giới sửa đổi n&ecirc;u tr&ecirc;n được thể hiện bằng đường đỏ tr&ecirc;n sơ đồ tỷ lệ 1/50.000 trong Phụ lục số 4 của Hiệp ước Bổ sung n&agrave;y. --- L&agrave;m tại H&agrave; Nội, ng&agrave;y 10 th&aacute;ng 10 năm 2005, th&agrave;nh hai bản gốc, mỗi bản bằng tiếng Việt, tiếng Khmer v&agrave; tiếng Ph&aacute;p; cả ba văn bản đều c&oacute; gi&aacute; trị như nhau. Trong trường hợp c&oacute; sự giải th&iacute;ch kh&aacute;c nhau, văn bản tiếng Ph&aacute;p được lấy l&agrave;m căn cứ. http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hiep-uoc-bo-sung-Hiep-uoc-hoach-dinh-bien-gioi-quoc-gia-nam-1985-125999.aspx
edited Jan 22 '16 lúc 2:48 pm
 
0
trả lời

HIỆP ƯỚC

HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI QUỐC GIA GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN CAM-PU-CHIA


Chuyển hướng Tây – Tây Nam theo đường thẳng khoảng 2850m (hai nghìn tám trăm năm mươi mét) đến điểm có tọa độ 1203.795 – 526.560; chuyển hướng Tây – Tây Bắc theo đường thẳng khoảng 2700m (hai nghìn bảy trăm mét) đến điểm có tọa độ 1204.695 – 524.000, theo đường thẳng khoảng 2250m (hai nghìn hai trăm năm mươi mét) đến điểm có tọa độ 1205.900 – 522.115; chuyển hướng Tây theo đường thẳng khoảng 1900m (một nghìn chín trăm mét) qua sông Cửu Long (Mekong) đến điểm có tọa độ 1205.950 – 520.215; chuyển hướng Tây Bắc theo đường thẳng khoảng 3000m (ba nghìn mét) đến điểm có tọa độ 1207.215 – 517.475; chuyển hướng Tây theo đường thẳng khoảng 2700m (hai nghìn bảy trăm mét) đến điểm có tọa độ 1207.050 – 514.790, theo đường thẳng khoảng 2500m (hai nghìn năm trăm mét) đến điểm có tọa độ 1206.650 – 512.310, đi song song với Prêk Bak Nam và cách bờ phía Nam rạch đó khoảng 150m (một trăm năm mươi mét) ra gặp mép phía Đông của cù lao Bắc Nam tại tọa độ 1207.325 – 511.300 rồi men theo mép phía Đông của cù lao đó ngược giữa sông Hậu Giang (Tônlé Bassac) đến điểm có tọa độ 1209.180 – 512.970; chuyển hướng Bắc – Tây Bắc theo rạch không tên gặp giữa sông Hậu Giang (Tônlé Bassac) tại điểm có tọa độ 1211.305 – 512.000, ngược giữa sông đó đến điểm có tọa độ 1210.950 – 509.440;

Chuyển hướng Tây Nam đi song song với rạch Bình Ghi và các bờ phía Tây rạch đó khoảng từ 50m (năm mươi mét) đến 100m (một trăm mét) như đã thể hiện trên bản đồ kèm theo, dài khoảng 2200m (hai nghìn hai trăm mét) đến khúc ngoặt, tiếp đó đi song song và cách bờ khoảng 150m (một trăm năm mươi mét) đến điểm gặp sông Châu Dốc (Prêk Moat Chruck) và cắt sông Châu Dốc tại tọa độ 1204.225 – 504.500, theo đường thẳng khoảng 1100m (một nghìn một trăm mét) đến điểm có tọa độ 1203.690 – 503.550; chuyển hướng Nam – Đông Nam theo đường thẳng khoảng 2500m (hai nghìn năm trăm mét) đến điểm có tọa độ 1201.250 – 504.170, theo đường thẳng khoảng 6050m (sáu nghìn không trăm năm mươi mét) cắt rạch không tên tại tọa độ 1195.810 – 506.825, theo đường thẳng khoảng 1500m (một nghìn năm trăm mét) đến điểm có tọa độ 1194.295 – 506.755, theo đường thẳng khoảng 1100m (một nghìn một trăm mét) cắt sông Tra Keo (Stŏeng Takêv) đến điểm có tọa độ 1193.250 – 507.240, theo đường thẳng khoảng 1750m (một nghìn bảy trăm năm mươi mét) đến điểm có tọa độ 1191.500 – 507.600 theo đường thẳng khoảng 1150m (một nghìn một trăm năm mươi mét) đến điểm có tọa độ 1191.040 – 508.650, theo đường thẳng khoảng 3000m (ba nghìn mét) đến điểm có tọa độ 1188.620 – 510.460, theo đường thẳng khoảng 3800m (ba nghìn tám trăm mét) đến điểm có tọa độ 1184.890 – 511.080;


Làm tại Phnom pênh, thủ đô nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, ngày 27 tháng 12 năm 1985 thành hai bản bằng tiếng Việt Nam và tiếng Khơ-me, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau./.

http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hiep-uoc-hoach-dinh-bien-gioi-quoc-gia-giua-nuoc-Viet-Nam-va-Cam-pu-chia-125008.aspx

## HIỆP ƯỚC ### HOẠCH ĐỊNH BI&Ecirc;N GIỚI QUỐC GIA GIỮA NƯỚC CỘNG H&Ograve;A X&Atilde; HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM V&Agrave; NƯỚC CỘNG H&Ograve;A NH&Acirc;N D&Acirc;N CAM-PU-CHIA --- Chuyển hướng T&acirc;y &ndash; T&acirc;y Nam theo đường thẳng khoảng 2850m (hai ngh&igrave;n t&aacute;m trăm năm mươi m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1203.795 &ndash; 526.560; chuyển hướng T&acirc;y &ndash; T&acirc;y Bắc theo đường thẳng khoảng 2700m (hai ngh&igrave;n bảy trăm m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1204.695 &ndash; 524.000, theo đường thẳng khoảng 2250m (hai ngh&igrave;n hai trăm năm mươi m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1205.900 &ndash; 522.115; chuyển hướng T&acirc;y theo đường thẳng khoảng 1900m (một ngh&igrave;n ch&iacute;n trăm m&eacute;t) qua s&ocirc;ng Cửu Long (Mekong) đến điểm c&oacute; tọa độ 1205.950 &ndash; 520.215; chuyển hướng T&acirc;y Bắc theo đường thẳng khoảng 3000m (ba ngh&igrave;n m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1207.215 &ndash; 517.475; chuyển hướng T&acirc;y theo đường thẳng khoảng 2700m (hai ngh&igrave;n bảy trăm m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1207.050 &ndash; 514.790, theo đường thẳng khoảng 2500m (hai ngh&igrave;n năm trăm m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1206.650 &ndash; 512.310, đi song song với Pr&ecirc;k Bak Nam v&agrave; c&aacute;ch bờ ph&iacute;a Nam rạch đ&oacute; khoảng 150m (một trăm năm mươi m&eacute;t) ra gặp m&eacute;p ph&iacute;a Đ&ocirc;ng của c&ugrave; lao Bắc Nam tại tọa độ 1207.325 &ndash; 511.300 rồi men theo m&eacute;p ph&iacute;a Đ&ocirc;ng của c&ugrave; lao đ&oacute; ngược giữa s&ocirc;ng Hậu Giang (T&ocirc;nl&eacute; Bassac) đến điểm c&oacute; tọa độ 1209.180 &ndash; 512.970; chuyển hướng Bắc &ndash; T&acirc;y Bắc theo rạch kh&ocirc;ng t&ecirc;n gặp giữa s&ocirc;ng Hậu Giang (T&ocirc;nl&eacute; Bassac) tại điểm c&oacute; tọa độ 1211.305 &ndash; 512.000, ngược giữa s&ocirc;ng đ&oacute; đến điểm c&oacute; tọa độ 1210.950 &ndash; 509.440; Chuyển hướng T&acirc;y Nam đi song song với rạch B&igrave;nh Ghi v&agrave; c&aacute;c bờ ph&iacute;a T&acirc;y rạch đ&oacute; khoảng từ 50m (năm mươi m&eacute;t) đến 100m (một trăm m&eacute;t) như đ&atilde; thể hiện tr&ecirc;n bản đồ k&egrave;m theo, d&agrave;i khoảng 2200m (hai ngh&igrave;n hai trăm m&eacute;t) đến kh&uacute;c ngoặt, tiếp đ&oacute; đi song song v&agrave; c&aacute;ch bờ khoảng 150m (một trăm năm mươi m&eacute;t) đến điểm gặp s&ocirc;ng Ch&acirc;u Dốc (Pr&ecirc;k Moat Chruck) v&agrave; cắt s&ocirc;ng Ch&acirc;u Dốc tại tọa độ 1204.225 &ndash; 504.500, theo đường thẳng khoảng 1100m (một ngh&igrave;n một trăm m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1203.690 &ndash; 503.550; chuyển hướng Nam &ndash; Đ&ocirc;ng Nam theo đường thẳng khoảng 2500m (hai ngh&igrave;n năm trăm m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1201.250 &ndash; 504.170, theo đường thẳng khoảng 6050m (s&aacute;u ngh&igrave;n kh&ocirc;ng trăm năm mươi m&eacute;t) cắt rạch kh&ocirc;ng t&ecirc;n tại tọa độ 1195.810 &ndash; 506.825, theo đường thẳng khoảng 1500m (một ngh&igrave;n năm trăm m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1194.295 &ndash; 506.755, theo đường thẳng khoảng 1100m (một ngh&igrave;n một trăm m&eacute;t) cắt s&ocirc;ng Tra Keo (Stŏeng Tak&ecirc;v) đến điểm c&oacute; tọa độ 1193.250 &ndash; 507.240, theo đường thẳng khoảng 1750m (một ngh&igrave;n bảy trăm năm mươi m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1191.500 &ndash; 507.600 theo đường thẳng khoảng 1150m (một ngh&igrave;n một trăm năm mươi m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1191.040 &ndash; 508.650, theo đường thẳng khoảng 3000m (ba ngh&igrave;n m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1188.620 &ndash; 510.460, theo đường thẳng khoảng 3800m (ba ngh&igrave;n t&aacute;m trăm m&eacute;t) đến điểm c&oacute; tọa độ 1184.890 &ndash; 511.080; --- L&agrave;m tại Phnom p&ecirc;nh, thủ đ&ocirc; nước Cộng h&ograve;a Nh&acirc;n d&acirc;n Cam-pu-chia, ng&agrave;y 27 th&aacute;ng 12 năm 1985 th&agrave;nh hai bản bằng tiếng Việt Nam v&agrave; tiếng Khơ-me, cả hai văn bản đều c&oacute; gi&aacute; trị như nhau./. http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hiep-uoc-hoach-dinh-bien-gioi-quoc-gia-giua-nuoc-Viet-Nam-va-Cam-pu-chia-125008.aspx
 
0
trả lời
1 ... 34567
4.33k
lượt xem
32
trả lời
1
theo dõi
xem trước trực tiếp
nhập ít nhất 10 ký tự
Cảnh báo: You mentioned %MENTIONS%, but they cannot see this message and will not be notified
Đang lưu...
Đã lưu
With selected deselect posts show selected posts
All posts under this topic will be đã xóa ?
Đang còn lưu nháp ... Click để sửa đổi lại
Xóa lưu nháp